|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/03/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Ông Lưu Xuân Giới.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 156/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Hà M; sinh năm 1994.
- Nơi thường trú: khu Y, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H; sinh năm 1989.
- Nơi thường trú: khu Y, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 04/9/2024 và quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Vũ Thị Hà M trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân H đăng ký kết hôn ngày 22/02/2014 tại UBND xã Y, huyện Đ (nay là phường Y, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Nguyễn Xuân H chơi bời, nợ nần khiến cả hai thường xuyên xảy ra tranh cãi, tình cảm vợ chồng không còn dẫn đến chị và anh H đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Trong thời gian vợ chồng chị ly thân, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải, động viên nhưng không có kết quả. Đến nay, chị xác định tình cảm dành cho anh H
không còn. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.
Về con chung: quá trình chung sống, chị và anh Nguyễn Xuân H có 02 con chung là Nguyễn Chấn P, sinh ngày 01/12/2014 và Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 01/10/2016. Nay ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo A cho chị nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Chấn P cho anh H nuôi dưỡng. Việc nuôi dưỡng con chung bắt đầu từ tháng 03 năm 2025 đến khi các con thành niên. Chị và anh H không ai phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại, thăm nom các con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: chị và anh Nguyễn Xuân H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai đề ngày 13/11/2024, bị đơn anh Nguyễn Xuân H trình bày: Anh và chị Vũ Thị Hà M tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Đ (nay là phường Y, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh năm 2014. Sau khi kết hôn, anh và chị M về chung sống tại thôn Y, phường Y, thị xã Đ. Trong quá trình chung sống, anh và chị M đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mặc dù đã được gia đình hòa giải nhưng không thể gắn kết được. Anh Nguyễn Xuân H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Vũ Thị Hà M được ly hôn.
Về con chung: anh và chị Vũ Thị Hà M có 02 con chung là Nguyễn Chấn P và Nguyễn Ngọc Bảo A, anh muốn tham khảo ý kiến của các con về việc muốn ở với ai.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 10/12/2024, Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Nguyễn Chấn P và Nguyễn Ngọc Bảo A. Kết quả được biết: cháu Nguyễn Chấn P có nguyện vọng muốn được ở với bố; cháu Nguyễn Ngọc Bảo A có nguyện vọng muốn được ở với mẹ.
Ngày 09/12/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh tại khu Y, phường Y, thành phố Đ, kết quả được biết: Chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H đăng ký kết hôn tại UBND phường Y. Vợ chồng anh H, chị M có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Hiện nay anh H, chị M không sống cùng nhau, chị M về nhà bố mẹ đẻ ở khu D, phường Y, thành phố Đ để sinh sống. Về con chung: Chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H có 02 con chung là Nguyễn Chấn P, sinh ngày 01/12/2014 và Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 01/10/2016. Hiện nay cả 02 con chung đang ở cùng anh H. Chị M và anh H hiện nay đều làm công nhân và đều quan tâm chăm sóc con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến. Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán được phân công thụ
lý giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã cơ bản đã thực hiện quy định tại Điều 196, 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa cơ bản tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên tòa, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Hà M về việc ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Xuân H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Về quan hệ pháp luật: Chị Vũ Thị Hà M có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Xuân H theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị Vũ Thị Hà M khởi kiện về việc ly hôn với anh Nguyễn Xuân H, được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Xuân H đăng ký thường trú tại khu Y, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
[2] Về quá trình tiến hành tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ toàn bộ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn là anh Nguyễn Xuân H. Nhưng anh H vắng mặt trong toàn bộ quá trình hòa giải, công khai chứng cứ và vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng. Việc Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt anh Nguyễn Xuân H là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Đ (nay là phường Y, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh ngày 22/02/2014. Hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị M và anh H phát sinh do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Hiện nay vợ, chồng sống mỗi người một nơi và đã ly thân nhau. Tại Bản
tự khai ngày 13/11/2024, anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị M. Mặt khác, việc anh H vắng mặt trong toàn bộ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa cho thấy anh H cũng không có ý thức xây dựng gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị Hà M đối với anh Nguyễn Xuân H là phù hợp với thực trạng quan hệ hôn nhân của anh, chị; phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình và điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[4] Về con chung: Chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H có 02 con chung là Nguyễn Chấn P, sinh ngày 01/12/2014 và Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 01/10/2016.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong thời gian chị M và anh H ly thân, anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con, nhưng chị M thường xuyên qua lại, thăm nom các con chung. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Hà M; nguyện vọng của cháu Nguyễn Chấn P về việc muốn ở với bố, nguyện vọng của cháu Nguyễn Ngọc Bảo A muốn được ở với mẹ; giới tính của các con; quan điểm của anh Nguyễn Xuân H về vấn đề con chung; điều kiện kinh tế của chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H. Thấy rằng, để cuộc sống của các cháu Nguyễn Chấn P và Nguyễn Ngọc Bảo A ổn định, không bị xáo trộn, cháu Nguyễn Ngọc Bảo A là con gái, giao cháu cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo cho cháu phát triển đầy đủ, toàn diện. Cháu P là con trai, hiện đang ở cùng bố nên giao cháu cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị M không yêu cầu giải quyết, anh H không có quan điểm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do đó, căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1, 2 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Hà M về vấn đề con chung, giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo A cho chị M nuôi dưỡng; giao con con là Nguyễn Chấn P cho anh H nuôi dưỡng. Chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H không ai phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại, thăm nom các con chung không ai được phép cản trở.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H1 có tài sản chung, không có nợ chung, nên Tòa án không xem xét.
[6] Về án phí: theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn chị Vũ Thị Hà M phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 3 Điều 4, khoản 1, 2 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban T;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chị Vũ Thị Hà M.
- Về tình cảm: chị Vũ Thị Hà M được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.
- Về con chung: giao con chung là Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 01/10/2016 cho chị Vũ Thị Hà M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao con chung là Nguyễn Chấn P, sinh ngày 01/12/2014 cho anh Nguyễn Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc nuôi dưỡng các con chung bắt đầu từ tháng 03 năm 2025 đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau và có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: chị Vũ Thị Hà M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0003665 ngày 11 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chị Vũ Thị Hà M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Hiếu |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Vũ Thị Hà M được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H 2. Về con chung: giao con chung là Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 01/10/2016 cho chị Vũ Thị Hà M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao con chung là Nguyễn Chấn P, sinh ngày 01/12/2014 cho anh Nguyễn Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc nuôi dưỡng các con chung bắt đầu từ tháng 03 năm 2025 đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Vũ Thị Hà M và anh Nguyễn Xuân H không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau và có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. 3. Về án phí: chị Vũ Thị Hà M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0003665 ngày 11 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chị Vũ Thị Hà M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
