TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 24 – 3 – 2025
V/v Tranh chấp Hôn nhân
và Gia đình về ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Trương Thị Bạch Yến
2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Ngọc Đ, sinh năm 1968
Địa chỉ: Số A, Phạm Hồng T, khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đ
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1968
Địa chỉ: Nhà trọ M, số B, khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đ.
Tại phiên tòa có mặt bà Đ; Vắng mặt ông N
NHẬN THẤY:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Bùi Ngọc Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đ và ông N sau thời gian quen biết khoảng hai tháng thông qua mai mối của người quen, thì tiến đến hôn nhân, tổ chức đám cưới vào năm 1992, đăng ký kết hôn vào ngày 27/3/1992 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố S, tỉnh Đ. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống ở K, K. Đến năm 2012 dọn về thành phố S sống chung nhà với mẹ bà Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 2018 xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, ông N thường xuyên đi nhậu, kiếm cớ gây gô và có hành vi bạo lực gia đình, đánh bà Đ. Từ đó, ông N dọn ra ngoài sống riêng và vợ chồng ly thân cho đến nay, ông N cũng không tới lui, hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Nay bà Đặng N1 thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải, bà Đ yêu cầu ly hôn ông N.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Các lời khai quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn Hoàng N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông N thống nhất theo lời trình bày của bà Đ về thời gian tìm hiểu, chung sống, kết hôn. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến dẫn đến gây gỗ, cự cải và xô xát lẫn nhau. Bà Đ không đồng ý cho ở chung nhà nên ông N phải dọn ra ngoài thuê nhà trọ sống. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay về tình cảm ông N xác định còn thương bà Đ nên không đồng ý ly hôn.
- Về con chung và tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Đ và ông N đã trầm trọng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Đ và ông N ly hôn; Về con chung, tài sản chung, nợ chung đương sự trình bày không có nên không xem xét.
- Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn; bị đơn cư trú tại thành phố S. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp phải giải quyết là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Đặng Hoàng N2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Xét yêu cầu của bà Bùi Ngọc Đ về việc yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Hoàng N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Đ và ông N chung sống vợ chồng từ năm 1992, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/3/1992 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố S, tỉnh Đ nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn bất đồng ý kiến nên vợ chồng gây gỗ cự cãi và có xô xát lẫn nhau. Từ đó, ông N dọn ra ngoài sống riêng và vợ chồng ly thân đến nay. Về phía ông N cho rằng còn thương bà Đ, mong muốn vợ chồng hàn gắn trở lại chung sống nên không đồng ý ly hôn. Nhưng từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không tới lui, ông N cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Đ, ông N đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Đ yêu cầu ly hôn ông N là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về án phí: Bà Đặng nộp toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Các Điều: 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Ngọc Đặng . Bà Bùi Ngọc Đ và ông Nguyễn Hoàng N ly hôn.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Đương sự trình bày không có nên Tòa án không xem xét.
3. Về án phí: Bà Bùi Ngọc Đ nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà Bùi Ngọc Đ đã nộp ngày 03/01/2025 theo biên lai thu số 0008061 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố S được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn
