|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-3-2025 V/v “Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuỷ và bà Lê Thị Hoàng Thương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuân Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 332/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Thái Thị Xuân H - sinh năm: 1979; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nơi tạm trú: Số A Kha V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; số CCCD: [...], cấp ngày: 06/7/2022 (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Trương Tấn L - sinh năm: 1978; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi tạm trú: Số A Kha V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; số CCCD: [...], cấp ngày: 05/9/2023 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/9/2024, bản tự khai ghi ngày 20/01/2025 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Thái Thị Xuân H trình bày:
Bà Thái Thị Xuân H và ông Trương Tấn L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam vào ngày 20/6/2022 (số đăng ký: 35/2022). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại Số A Kha V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian chung sống, giữa hai bên đã tồn tại nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hoà hợp trong lối sống, cách ứng xử dẫn đến thường xuyên cải vã, xúc phạm và xô xát lẫn nhau làm cho đời sống chung không còn hạnh phúc, mỗi người phần ai nấy sống. Nay bà H xác định không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông L.
Về con chung, tài sản chung và bợ chung: Bà H xác định không có.
Bị đơn ông Trương Tấn L không trình bày ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng dù đã được Toà án cấp, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến như sau:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng cho các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án; tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện trình tự thủ tục tô tụng tại phiên tòa phù hợp với quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Thái Thị Xuân H được ly hôn ông Trương Tấn L. Bà H trình bày không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên VKS không đề nghị giải quyết.
- + Về án phí: Buộc bà H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Thái Thị Xuân H và ông Trương Tấn L đã tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 35/2022 ngày 20/6/2022. Bị đơn ông Trương Tấn L hiện đang cư trú tại huyện H, thành phố Đà Nẵng. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông L về việc “Ly hôn” là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Trương Tấn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung giải quyết: Quan hệ hôn nhân giữa bà Thái Thị Xuân H và ông Trương Tấn L là hợp pháp. Trong thời gian chung sống, giữa hai bên đương sự phát sinh mẫu thuẫn, theo bà H khai nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng không còn yêu thương là do vợ chồng không hoà hợp trong lối sống, cách ứng xử dẫn đến thường xuyên cải vã, xúc phạm và xô xát lẫn nhau làm cho đời sống chung không còn hạnh phúc.
[4] Qua xác minh tại địa phương nơi bị đơn đang cư trú vào ngày 03/01/2025 thể hiện vợ chồng bà H hiện vẫn còn cư trú tại địa phương, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thì địa phương không hay biết. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà H kiên quyết xin được ly hôn, còn ông L không đến Tòa án, điều này thể hiện bị đơn không còn mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Như vậy, lời trình bày của bà H về quan hệ hôn nhân, sự mâu thuẫn giữa hai bên là đúng sự thật. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định đời sống hôn nhân của các đương sự đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài. Xét thấy yêu cầu ly hôn của bà H phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H ly hôn ông L, phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
[5] Về con chung, tài sản chung và nuôi dưỡng con chung và nghĩa vụ tài sản đối với bên thứ ba: Bà H xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết. Trường hợp nếu có tranh chấp thì các bên được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác để yêu cầu giải quyết.
[6] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Xuân H đối với ông Trương Tấn L về việc “Ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thái Thị Xuân H ly hôn ông Trương Tấn L.
- Về án phí: Bà Thái Thị Xuân H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002452 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng; như vậy, bà H đã nộp đủ tiền án phí.
4
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/3/2025). Riêng bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đức Tuấn |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Thái Thị Xuân H đối với ông Trương Tấn L về việc "Ly hôn".
