Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20-8-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phú Duy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vương Thị Thu Lan

2. Ông Lý Trung Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiển - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2025/TLST-HNGĐ ngày 23-5-2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18-7-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05-8-2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thùy L, sinh năm 1996 – vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Nơi cư trú: Tổ D, phường C, tỉnh Sơn La (trước khi sáp nhập là: Tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La).

  3. Bị đơn: Anh Lưu Thắng L1, sinh năm 1998 – vắng mặt lần thứ hai không có lý do
  4. Nơi cư trú: Thôn Y, xã L, tỉnh Lào Cai (trước khi sáp nhập là xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21-5-2025 và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thùy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Lưu Thắng L1 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã L, tỉnh Lào Cai) vào ngày 18-6-2018 trên cơ sở tự nguyện của đôi bên. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không cải thiện. Vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2021 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Lưu Uyên T (sinh ngày 10-4-2018). Ly hôn, chị Lê Thùy L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lưu Uyên T, không yêu cầu anh L2 Thắng Lợi cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản và nợ chung: Chị xác định vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và giao nhận, tống đạt các văn bản hợp lệ cho anh L2 Thắng Lợi nhưng anh L1 vẫn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của anh Lưu Thắng L1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thùy L có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Lưu Thắng L1, nơi thường trú: Thôn Y, xã L, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai.
    2. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lê Thùy L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lưu Thắng L1 đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thùy L và anh Lưu Thắng L1 có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã L, tỉnh Lào Cai) là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng anh chị đã ly thân từ năm 2021 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã thông báo nhiều lần nhưng anh Lưu Thắng L1 không đến Tòa, không có bản khai, như vậy anh Lưu Thắng L1 đã tự từ bỏ quyền lợi và cơ hội hàn gắn cuộc sống vợ chồng của bản thân. Điều đó cho thấy hôn nhân giữa chị Lê Thùy L và anh Lưu Thắng L1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ cho chị Lê Thùy L được ly hôn anh Lưu Thắng L1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về con chung: Chị Lê Thùy L và anh Lưu Thắng L1 có 01 con chung là cháu Lưu Uyên T (sinh ngày 10-4-2018). Ly hôn, chị Lê Thùy L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lưu Uyên T, không yêu cầu anh L2 Thắng Lợi cấp dưỡng nuôi con và cháu Lưu Uyên T có đơn nguyện vọng xin được ở với mẹ. Xét thấy, cháu Lưu Uyên T còn nhỏ, để đảm bảo quyền và lợi ích, đảm bảo về điều kiện tinh thần và cuộc sống ổn định, cần giao cháu Lưu Uyên T cho chị Lê Thùy L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh Lưu Thắng L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về chia tài sản và nợ chung: Chị Lê Thùy L xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Lê Thùy L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thùy L được ly hôn anh Lưu Thắng L1.
  2. Về con chung: Giao cháu Lưu Uyên T (sinh ngày 10-4-2018) cho chị Lê Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Lưu Thắng L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Chị Lê Thùy L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2024/0001794 ngày 21-5-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Chị Lê Thùy L đã nộp đủ.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND KV3-Lào Cai;
  • - THADS tỉnh Lào Cai;
  • - UBND xã Lương Thịnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, TA, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Phú Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger