Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG XƯƠNG

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lợi

Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Việt - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Bùi Thị G- Sinh năm 1994

    Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.

  • - Bị đơn: Anh Hoàng Bá Đ- Sinh năm 1991

    Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

Tại phiên tòa chị Bùi Thị G (có đơn xin xét xử vắng mặt), anh Hoàng Bá Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2025, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị G trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Hoàng Bá Đ tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q vào sổ số 07/2014, quyển số 01/2013 ngày 16/01/2014. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian tại nhà ông bà nội, sau đó đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng đi làm ăn xa dẫn đến bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng anh chị không hàn gắn được. Mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2019, chị đã chuyển về nhà mẹ đẻ tại Thôn X, xã Đ, huyện B ở từ đó đến nay không ai quan tâm chăm sóc đến ai.

Xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Bá Đ.

- Về con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung: Hoàng Thị Ánh T, sinh ngày 28/11/2014 và Hoàng Bá L, sinh ngày 14/8/2016. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao 02 cháu T và cháu L cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bởi vì lâu nay 02 cháu đang ở với bố và ông bà nội được chăm sóc tốt hơn. Về phần cấp dưỡng nuôi con chung chị có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con chung cho 02 cháu T và cháu L mỗi tháng 2.000.000 đồng/ tháng (Cháu T 1.000.000 đồng, cháu L 1.000.000 đồng).

- Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị G đề nghị được chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Kèm theo đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Bùi Thị G còn nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản gốc); bản sao chứng thực giấy khai sinh của cháu Hoàng Thị Ánh T và Hoàng Bá L, bản sao căn cước công dân của vợ chồng, đơn xin xác nhận nơi cư trú của nguyên đơn, bị đơn. Sau khi thụ lý vụ án, chị G nộp thêm đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải, đơn xin xét xử vắng mặt, bản tự khai.

* Bị đơn anh Hoàng Bá Đ tại bản tự khai ngày 12/03/2025 trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị G tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q vào sổ số 07/2014, quyển số 01/2013 ngày 16/01/2014. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian tại nhà ông bà nội, sau đó đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng đi làm ăn xa dẫn đến bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng anh chị không hàn gắn được. Mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2019, chị G đã chuyển về nhà mẹ đẻ tại Thôn X, xã Đ, huyện B ở từ đó đến nay không ai quan tâm chăm sóc đến ai.

Xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Chị Gia H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương giải quyết việc ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh và chị G có 02 con chung: Hoàng Thị Ánh T, sinh ngày 28/11/2014 và Hoàng Bá L, sinh ngày 14/8/2016. Ly hôn, anh thống nhất với ý kiến của chi Gia đề nghị Tòa án giao 02 cháu T và cháu L cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bởi vì lâu nay 02 cháu đang ở với bố và ông bà nội được chăm sóc tốt hơn. Về phần cấp dưỡng nuôi con chung anh cũng thống nhất với ý kiến của chị G cấp dưỡng nuôi con chung cho 02 cháu T và cháu L mỗi tháng 2.000.000 đồng/ tháng (Cháu T 1.000.000 đồng, cháu L 1.000.000 đồng)

- Về phần tài sản và công nợ: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản xác minh ngày 05/5/2025, ông Hoàng Văn C(là trưởng thôn Lộc Tiến, xã Q, huyện Q) cho biết:

Về hôn nhân: Anh Hoàng Bá Đ và chị Bùi Thị G có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa ngày 16/01/2014. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại gia đình anh Đ ở Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa một thời gian phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân thế nào thì địa phương không nắm được do anh chị không báo cáo chính quyền địa phương. Từ năm 2019 chị G đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở, anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay chị G làm đơn ly hôn với anh Đ tại Tòa ám. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Đ và chị G có 02 con chung: Hoàng Thị Ánh T, sinh ngày 28/11/2014 và Hoàng Bá L, sinh ngày 14/8/2016. Hiện nay 02 cháu đang ở với anh Đ tại nhà ông bà nội. Nếu anh chị ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản và công nợ: Địa phương không nắm được tài sản của anh chị. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát huyện Q, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về Luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 227; điều 228, điều 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật TTDS; Khoản 1 điều 56; Các điều 81; 82; 83 luật HNGĐ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị G và anh Hoàng Bá Đ. Theo đó, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị G và anh Đ; về con chung, Hoàng Thị Ánh T và cháu Hoàng Bá L cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị G có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng/2 cháu. Về án phí, chị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn đã làm đúng theo mẫu quy định, nội dung khởi kiện xin ly hôn phù hợp với khoản 1 Điều 28 của BLTTDS; bị đơn có nơi cư trú tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nên Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTT DS.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Bùi Thị G có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hoàng Bá Đ quá trình giải quyết anh có lên làm bản tự khai, nhưng quá trình Tòa án tống đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Đ nhưng anh Đ vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị G và anh Hoàng Bá Đ tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q vào sổ số 07/2014, quyển số 01/2013 ngày 16/01/2014. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian tại nhà ông bà nội, sau đó đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng đi làm ăn xa dẫn đến bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng anh chị không hàn gắn được. Mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2019, chị G đã chuyển về nhà mẹ đẻ tại Thôn X, xã Đ, huyện B ở từ đó đến nay không ai quan tâm chăm sóc đến ai.

Xét thấy, chị G và anh Đ đều có nguyện vọng được ly hôn. Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị Bùi Thị G và anh Hoàng Bá Đ là phù hợp theo quy định tại Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con chung:

[4] Về con chung: Vợ chồng Anh Đ và chị G có 02 con chung: Hoàng Thị Ánh T, sinh ngày 28/11/2014 và Hoàng Bá L, sinh ngày 14/8/2016. Khi ly hôn chị G và anh Đ đều đề nghị anh Đ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu và chị G có trách nhiệm chu cấp tiền nuôi con chung cho anh Đ với mức chu cấp 1.000.000đ/01cháu/tháng.

Xét nguyện vọng của chị G và anh Đ về trách nhiệm nuôi con chung chị G và anh Đ đều đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Ngọc Thiên K cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh K1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị V. Xét thấy, việc giao cháu Nguyễn Ngọc Thiên K cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của vợ, chồng, phù hợp với điều kiện thực tế của hai bên, phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ có căn cứ chấp nhận.

[5] Về tài sản và công nợ: anh Nguyễn Vĩnh K1 và chị Hồ Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Vĩnh K1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228; Khoản 1 Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014;

Căn cứ Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khỏi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị G với anh Hoàng Bá Đ; cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Ghi nhận chị Bùi Thị G thuận tình ly hôn anh Hoàng Bá Đ.

Về con chung: Giao cho anh Hoàng Bá Đ trực tiếp nuôi hai con chung của chị G và anh Đ là Hoàng Thị Ánh T, sinh ngày 28/11/2014 và Hoàng Bá L, sinh ngày 14/8/2016; chị G có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Đ mỗi cháu một tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2025 cho đến khi người được cấp dưỡng đủ 18 tuổi. Chị G có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí:

  • - Chị Bùi Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền án phí chị G phải chịu được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: AA/2021/0003854 ngày 13/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Xương. Chị G đã nộp đủ tiển án phí.
  • - Chị Bùi Thị G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Xương;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Quảng Trung, huyện Quảng Xương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Võ Thanh Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị G - Hoàng Bá Đ - Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger