|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ - ST
Ngày 20/3/2025
“V/v Ly hôn "
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Xuyến.
- Bà Phạm Thị Dung.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 142/2024/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024, về việc "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/QĐST – HNGĐ ngày 11/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Vi Thị N, sinh năm 1983.
Địa chỉ: tổ 9, khu 1, phường Bắc S, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Lê Văn Đ, sinh năm 1971.
Địa chỉ: tổ 20A, khu 4, phường Bắc S, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, không có ly do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/10/2024; bản tự khai; đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vi Thị N trình bày:
- Về tình cảm: chị (Vi Thị N) cùng anh Lê Văn Đ kết hôn trên cơ sở tình yêu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/7/2020, tại Ủy ban nhân phường Bắc S thành phố B, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chị N sinh sống tại tổ 20A, khu 4, phường Bắc S, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không hợp nhau về tính cách. Nguyên nhân chính xảy ra mâu thuẫn do anh Đ thường xuyên sử dụng rượu và đánh đập chị dẫn tới chị cùng anh Đ không thể chung sống với nhau được, chị N cùng anh Đ đã sống ly thân nhau từ tháng 3/2024 đến nay và không còn quan tâm tới nhau nữa. Nay chị N thấy mẫu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể khắc phục được, nên chị đề nghị tòa án cho chị N được ly hôn anh Đ.
- Về con chung: trong quá trình chung sống chị N cùng anh Đ, không có con chung.
- Về tài sản chung: chị N cùng anh Đ, không có tài sản chung.
Bị đơn anh Lê Văn Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đến anh Đ, anh Đ đã được nhận đầy đủ. Tuy nhiên anh Đ biết toàn bộ nội dung tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án ly hôn, nhưng anh Đ không chấp hành vắng mặt không có lý do.
Tuy nhiên anh Lê Văn Đ có viết bản tự khai vào ngày 11/02/2025 gửi tới Tòa án nhân dân thành phố B với nội dung.
- Về tình cảm: anh Đ và chị Vi Thị N có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường Bắc S, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, trong quá trình chung sống đã xảy ra mâu thuẫn giữa anh Đ và chị Vi Thị N do không hợp nhau, nay chị Vi Thị N bỏ đi theo trai và viết đơn xin ly hôn, nay anh Lê Văn Đ và chị Vi Thị N không chung sống được với nhau, nên anh cũng thuận tình ly hôn.
- Về con chung: trong quá trình chung sống anh Đ cùng chị N, không có con chung.
- Về tài sản chung: anh Đ cùng chị N, không có tài sản chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền của Tòa án: chị Vi Thị N có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Lê Văn Đ có địa chỉ tổ 20A, khu 4, phường Bắc S, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, nên đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa và giữ nguyên quan điểm giải quyết vụ án như nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án. Bị đơn đã được triệu tập nhiều lần nhưng không đến tòa và được triệu tập hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, theo quy định của pháp luật.
Vệc không tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, trong vụ án này Tòa án không thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Vi Thị N và anh Lê Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau có đăng ký kết hôn số: 21 ngày 24/7/2020, tại Ủy ban nhân dân phường Bắc S, thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, đây là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ được pháp luật công nhận và bảo vệ, đáng lẽ ra hai vợ chồng phải biết trân trọng, nâng niu, vun vén cho cuộc sống vợ chồng ngày càng hạnh phúc hơn, nhưng chỉ vì trong cuộc sống thường ngày phát sinh những mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Lê Văn Đ thường xuyên sử dụng rượu và đánh đập chị Vi Thị N dẫn tới chị N cùng anh Đ không thể chung sống với nhau được, hai người sống ly thân nhau từ tháng 3 năm 2024 đến nay và không còn quan tâm tới nhau nữa. Hiện tại chị Vi Thị N có đơn gửi tới Tòa án xin ly hôn anh Lê Văn Đ, Tòa án đã tiến hành các trình tự theo Luật hòa giải đối thoại tại tòa án và Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã gửi thông báo hợp lệ về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần anh Đ đã được nhận đầy đủ, nhưng anh Đ vẫn không có mặt tại các phiên hòa giải, thể hiện Tòa án đã thực hiện việc tống đạt đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, anh Đ đã biết việc chị N khởi kiện vụ án ly hôn nhưng anh Đ không chấp hành pháp luật, không có mặt để giải quyết việc ly hôn với chị N mà anh Đ chỉ viết bản tự khai với nội trong quá trình chung sống giữa anh Đ với chị N phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau, nay chị Vi Thị N bỏ đi theo trai và viết đơn xin ly hôn anh Lê Văn Đ và anh cũng xác định giữa anh Đ và chị N không chung sống được với nhau, nên anh Đ cũng thuận tình ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Vi Thị N và anh Lê Văn Đ thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Vi Thị N xin ly hôn anh Lê Văn Đ, xử cho chị N được ly hôn anh Đ là phù hợp với thực tế và nguyện vọng của hai người.
- Về con chung: trong quá trình chung sống chị N với anh Đ không có con chung, nên Hội đồng xét xử không đề cập và giải quyết.
- Về tài sản chung: chị Vi Thị N và anh Lê Văn Đ không có tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không đề cập và giải quyết.
[4] Về án phí: chị Vi Thị N phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 39 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 267, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vi Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: cho chị Vi Thị N được ly hôn anh Lê Văn Đ.
- Về án phí: chị Vi Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002774 ngày 04/11/2024, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Quảng Ninh, chị Vi Thị N đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự, báo cho họ biết quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 10/2025/HNGĐ - ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
