Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/02/2025

Về việc ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Bời

Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1091/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Long Anh V, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Số C L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Hương G - Sinh năm: 1975.

Địa chỉ: Số B T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Long Anh V trình bày:

Ông Trần Long Anh V và bà Trần Thị Hương G tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 17/3/2005.

Trong quá trình chung sống, do tính cách vợ chồng không hợp, có nhiều mâu thuẫn xảy ra, không tìm được tiếng nói chung nên ông Trần Long Anh V và bà Trần Thị Hương G đã ly thân 06 năm nay.

Do bà G theo công giáo, không được phép ly hôn nên mặc dù ông, bà đã ly thân nhiều năm nhưng vẫn chưa tiến hành ly hôn được. Tình trạng hôn nhân kéo dài như vậy thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên ông Trần Long A V đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà G.

Về con chung: Ông Trần Long Anh V và bà Trần Thị Hương G có 01 con chung là Trần Anh D, sinh ngày 25/7/2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Long Anh V và bà Trần Thị Hương G không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Hương G không đến Tòa án để làm việc và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu: Tòa án đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của nguyên đơn. Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét ý kiến trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đang cư trú tại thành phố N nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 2; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Long Anh V vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn bà Trần Thị Hương G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Long Anh V và bà Trần Thị Hương G theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Long Anh V và bà Trần Thị Hương G tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 17/3/2005 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Ông Trần Long Anh V trình bày sau khi kết hôn, do tính cách vợ chồng không hợp, có nhiều mâu thuẫn xảy ra, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân nên ông Trần Long A V và bà Trần Thị Hương G đã ly thân 06 năm. Nay, ông Trần Long A V yêu cầu ly hôn bà Trần Thị Hương G với lý do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà Trần Thị Hương G đến Tòa án để hòa giải và giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt. Điều này thể hiện ý chí của bà Trần Thị Hương G không mong muốn hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng và coi như bỏ mặc hôn nhân.

Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa ông Trần Long A V và bà Trần Thị Hương G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình thì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Long A V là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Ông Trần Long Anh V và bà Trần Thị Hương G có 01 con chung là Trần Anh D đã thành niên nên Tòa án không giải quyết việc nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Long Anh V trình bày vợ chồng ông không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn bà Trần Thị Hương G không đến Tòa án để trình bày ý kiến hay yêu cầu về nội dung này nên Tòa án không giải quyết.

[5] Về án phí: Ông Trần Long Anh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Long Anh V được ly hôn bà Trần Thị Hương G.
  2. Về con chung: Con chung đã thành niên nên Tòa án không giải quyết việc nuôi con chung.
  3. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Sau này có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
  4. Về án phí: Ông Trần Long Anh V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003316 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, ông Trần Long Anh V đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Cục THADS TP. Nha Trang;
  • - UBND phường Phước Hải;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Ánh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger