|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14-02-2025
V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Ánh Nhạn;
- Bà Trần Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lương Bá Xanh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 448/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1990. “vắng mặt”
- Bị đơn: Ông Huỳnh Viết B, sinh năm 1986. “vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02/7/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - bà Nguyễn Ngọc H đã khai:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Viết B trên cơ sở tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào cùng năm. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn hợp nhau về tính tình, từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn đối với ông Huỳnh Viết B.
Về con chung: Bà và ông B có hai con chung tên Huỳnh Thị Bảo T, sinh ngày 23/5/2008 và Huỳnh Thị Bảo N, sinh ngày 06/10/2017; hiện cháu T và cháu N đang ở với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu cháu T và cháu N; không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông B không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng không có nợ chung ai, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn - ông Huỳnh Viết B đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do, không có bản tự khai, không trình bày lời khai theo yêu cầu của Tòa án.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành và chưa thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ tố tụng. Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ Luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả nguyên đơn và bị đơn là đúng pháp luật. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Kiểm sát viên không phát hiện vi phạm tố tụng.
- - Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 56, 58, 71, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông B, bà H được ly hôn với ông B; về con chung: giao cháu Huỳnh Thị Bảo T và cháu Huỳnh Thị Bảo N cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận bà H không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí: Các đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:
- [1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Ngọc H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Viết B, ông B có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, ông B đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ nhưng ông B vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông B. Ông B phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 6, 72 và 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng bà H. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
- [2] Về hôn nhân: Bà H và ông B trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G vào ngày 31/12/2008 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 265/2008 của UBND xã T) nên hôn nhân của bà H và ông B là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Về nguyên nhân mâu thuẫn, bà H cho rằng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tình tính nên vợ chồng ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay; lời trình bày của bà H phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Mặt khác, Tòa án triệu tập hòa giải nhiều lần nhưng ông B không đến, cho thấy ông B không có thiện chí hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân giữa bà H và ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông B theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Bà H và ông B có hai con chung tên Huỳnh Thị Bảo T, sinh ngày 23/5/2008 và Huỳnh Thị Bảo N, sinh ngày 06/10/2017; hiện cháu T và cháu N đang sống với bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu cháu T và cháu N. Xét thấy, bà H vẫn chăm sóc con chung tốt, đảm bảo quyền lợi cho cháu T và cháu N, cả hai cháu cũng có nguyện vọng sống cùng bà H nên tiếp tục giao hai con chung cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
- [4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông B không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- [5] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.
- [6] Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Huỳnh Viết B không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Ngọc H đối với ông Huỳnh Viết B. Bà H được ly hôn với ông B.
-
Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Bảo T, sinh ngày 23/5/2008 và Huỳnh Thị Bảo N, sinh ngày 06/10/2017 cho bà H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Ông Huỳnh Viết B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở ông B thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông B không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, cho khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0014482 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Ông Huỳnh Viết B không phải chịu án phí.
- Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc H, ông Huỳnh Viết B có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Tiến Danh |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H - Huỳnh Viết B
