TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày 11 tháng 6 năm 2025 V/v“ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng, Bà Chẻo Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Đặng Ngọc Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025. Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lò Thị S - sinh năm 1979 – vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lò Văn M - sinh năm 1985 – vắng mặt lần 2.
Địa chỉ: bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
Địa chỉ: bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Lò Thị S trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lò Thị S và anh Lò Văn M chung sống với nhau vào năm 2002 và tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của dân tộc địa phương không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2008 thì anh Lò Văn M và chị Lò Thị S phát sinh nhiều mâu thuẫn, sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã trong đời sống hàng ngày. Hiện không còn quan tâm đến nhau, hai vợ chồng được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thay đổi được. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị Lò Thị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Lò Thị S được ly hôn với anh Lò Văn M.
Về con chung: Vợ, chồng chị Lò Thị S và anh Lò Văn M có bốn con chung là cháu: Lò Văn D, sinh ngày 02/07/2008, cháu Lò Văn T, sinh ngày 22/4/2005, cháu Lò Văn T1, sinh ngày 09/8/2002 và cháu Lò Thơm L, sinh ngày 15/5/2011. Chị Lò Thị S có nguyện vọng sau khi ly hôn chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lò Văn D và cháu Lò Thơm L cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Đối với cháu Lò Văn T1 và Lò Văn T đã thành niên và có khả năng tự nuôi sống bản thân nên không có đề nghị gì.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Lò Thị S không yêu cầu anh Lò Văn M phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ, chồng chị Lò Thị S và anh Lò Văn M tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị Lò Thị S đề nghị theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn anh Lò Văn M: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lò Văn M trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lò Văn M và chị Lò Thị S có chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, sống ly thân với nhau. Vợ làm đơn ly hôn nhưng tôi muốn đoàn tụ gia đình.
Về con chung: Vợ, chồng chị Lò Thị S và anh Lò Văn M có bốn con chung là cháu: Lò Văn D, sinh ngày 02/07/2008, cháu Lò Văn T, sinh ngày 22/4/2005, cháu Lò Văn T1, sinh ngày 09/8/2002 và cháu Lò Thơm L, sinh ngày 15/5/2011. Anh Lò Văn M trình bày bản thân không có khả năng nuôi con, vì không muốn ly hôn nên đề nghị Tòa án không giải quyết việc nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: anh Lò Văn M không có ý kiến trình bày gì khác.
- Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, xác nhận lấy ý kiến trưởng bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu nơi anh Lò Văn M và chị Lò Thị S đang sinh sống: anh Lò Văn M, sinh năm 1985, chị Lò Thị S, sinh năm 1979, qua kiểm tra các thông tin liên quan đến việc kết hôn thì anh Lò Văn M và chị Lò Thị S không có đăng ký kết hôn, tình trạng anh M và chị S chung sống với nhau không có đăng ký hợp pháp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với nhau.
- Về thẩm quyền thụ lý, quan hệ tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng xác định đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về thu thập chứng cứ đúng trình tự tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định tại các Điều 177, 196, 208, 220 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về thời hạn gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tiến hành lấy lời khai cháu Lò Thơm L và cháu Lò Văn D, cả hai cháu L và D đều có nguyện vọng được ở với mẹ do bố thường xuyên uống rượu nên hai cháu không muốn ở với bố.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cụ thể như sau:
Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm tại Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự;
Đối với người tham gia tố tụng. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự;
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1, Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị S và anh Lò Văn M. Về con chung: Giao cháu Lò Văn D, sinh ngày 02/07/2008 và cháu Lò Thơm L, sinh ngày 15/5/2011 cho chị Lò Thị S chăm sóc, giáo dục. Anh Lò Văn M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Anh Lò Văn M và chị Lò Thị S không có yêu cầu xem xét, đề nghị về việc giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lò Văn M, chị Lò Thị S không đề nghị nên Tòa án không xem xét. Về Án phí: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Lò Thị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra cũng như xem xét toàn diện vụ án và yêu cầu giải quyết của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về thủ tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: chị Lò Thị S nộp đơn khởi kiện về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, tại Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lò Thị S đã nộp tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định. Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị S, theo khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình và Điều 195 BLTTDS.
- - Về thẩm quyền giải quyết: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, giữa anh Lò Văn M và chị Lò Thị S, bị đơn cư trú tại bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
- - Nguyên đơn chị Lò Thị S vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lò Văn M vắng mặt lần 2 tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: anh Lò Văn M và chị Lò Thị S tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2002, hôn nhân có tổ chức theo phong tục địa phương nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau, anh Lò Văn M muốn đoàn tụ gia đình nhưng chị Lò Thị S giữ nguyên quan điểm ly hôn. Hôi đồng xét xử xét thấy anh Lò Văn M và chị Lò Thị S chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn đã vi phạm Luật hôn nhân và gia đình, do đó không thể giải quyết xin ly hôn giữa các đương sự mà căn cứ khoản 1 Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ của anh Lò Văn M và chị Lò Thị S không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị (khoản 1 Điều 9); “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng...” (khoản 1 Điều 14); “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”(khoản 2 Điều 53).
Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đinh tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ...”.
Về con chung: Vợ, chồng chị Lò Thị S và anh Lò Văn M có bốn con chung là cháu: Lò Văn D, sinh ngày 02/07/2008, cháu Lò Văn T, sinh ngày 22/4/2005, cháu Lò Văn T1, sinh ngày 09/8/2002 và cháu Lò Thơm L, sinh ngày 15/5/2011. Đối với cháu Lò Văn T1 và Lò Văn T đã thành niên và có khả năng tự nuôi sống bản thân nên không xem xét.
Đối với hai cháu Lò Văn D và cháu Lò Thơm L, xét nguyện vọng của hai cháu D và L muốn ở với mẹ, anh Lò Văn M trình bày anh không có khả năng nuôi con nên giao cho chị Lò Thị S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Lò Văn D và Lò Thơm L cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ, chồng chị Lò Thị S và anh Lò Văn M không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện VKS huyện S tại phiên Tòa là có cơ sở pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về Án phí: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Lò Thị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp ngày 06 tháng 01 năm 2016. Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị S và anh Lò Văn M.
- Về con chung: Giao cháu Lò Văn D, sinh ngày 02/07/2008 và cháu Lò Thơm L, sinh ngày 15/5/2011 cho chị Lò Thị S chăm sóc, giáo dục. Anh Lò Văn M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Anh Lò Văn M và chị Lò Thị S không có yêu cầu xem xét, đề nghị về việc giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét.
Các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lò Văn M, chị Lò Thị S không đề nghị nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Chị Lò Thị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, chị Lò Thị S được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001413 ngày 10/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, chị Lò Thị S đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị S và anh Lò Văn M
