|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-4-2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Khắc Quế
- Bà Lê Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chung- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 328/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025;
+ Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị vắng mặt.
+ Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số nhà B đường Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 28/6/2024 và những lời trình bày của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T thể hiện như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Nguyễn Ngọc H có thời gian quen biết nhau từ khoảng năm 2016, 2017 thông qua người thân, đến năm 2019 tìm hiểu nhau và tổ chức lễ cưới vào cuối năm 2019. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 15/10/2019.
Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ chung sống được khoảng 01 năm nhưng không có con nên đi khám thì được biết nguyên nhân do ông H, tuy nhiên ông H lại không hợp tác trong quá trình khám, chữa bệnh, ông H cũng không cho bà T đi làm bên ngoài, mặt khác ông H còn tụ tập bạn bè chơi bời, lén lút bán cà phê để lấy tiền trả nợ riêng do cá độ, ông H cũng yêu cầu bà T vay nợ để lấy tiền cho ông H đi trả nợ riêng nên bà T không đồng ý. Từ đó vợ chồng cũng nhiều lần cãi nhau, có những lần căng thẳng bà T cũng bỏ về nhà mẹ đẻ một thời gian sau đó lại về chung sống với ông H nhưng cuộc sống cũng không cải thiện vì vậy từ tháng 03/2024 bà T và ông H đã sống ly thân mỗi người một nơi, không ai liên lạc gì với nhau, cũng không có nhu cầu hàn gắn tình cảm, ba T cũng đã tìm gặp ông H để nói chuyện trước khi nộp đơn ra Tòa nhưng không gặp ông H, hiện ông H cũng chặn số điện thoại nên bà T không liên lạc gì với ông H.
Do không còn tình cảm với ông H, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn không thể hàn gắn vì vậy bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
- Về con chung: Bà T và ông H không có con chung.
- Về tài sản chung: Bà T trình bày không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà T cam kết vợ chồng không vay nợ chung ai.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H không đến Tòa án làm việc, không gửi bản tự khai nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn bà T có đơn đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H không có mặt mặc dù đã được Toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, cũng không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H, về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến;
- Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H cư trú tại xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu T và ông Nguyễn Ngọc H chung sống với nhau từ năm 2019, việc chung sống là tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ngày 15/10/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Bà T cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông H tụ tập bạn bè chơi bời, lén lút bán cà phê và yêu cầu bà T vay tiền trả nợ riêng, ngoài ra ông H cũng không hợp tác trong quá trình điều trị do khó có con, bản thân bà T do không quen với công việc làm vườn cùng gia đình ông H nên giữa vợ chồng xảy ra bất đồng quan điểm. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ tháng 03/2024 bà T và ông H đã sống ly thân mỗi người ở một nơi, không ai liên lạc gì với nhau.
Do bà T không còn tình cảm gì với ông H, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn không thể hàn gắn vì vậy bà T yêu cầu được ly hôn với ông H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông H nhiều lần để tác động, hòa giải nhưng ông H vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, qua xác minh người thân và chính quyền địa phương thì thấy rằng giữa bà T, ông H có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống nên từ giữa năm 2024 đến nay bà T và ông H không còn chung sống cùng nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, xử cho bà T và ông H được ly hôn là có cơ sở và đúng pháp luật.
[3.2]. Về con chung: Qua lời thừa nhận của bà T và chứng cứ do bà Thủy cung C, căn cứ biên bản xác minh của chính quyền địa phương xác định bà Phạm Thị Thu T và ông Nguyễn Ngọc H không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu T đối với ông Nguyễn Ngọc H.
Cho bà Phạm Thị Thu T ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
2. Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006611 ngày 04/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Vũ Khắc Quế | Lê Thị Hòa |
| Lê Thị Thanh Nhàn |
4
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hòa |
5
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh H
