|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/3/2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và
gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Trang và ông Nguyễn Văn Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phát Huy, Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu
Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 411/2024/TLST-HNGĐ ngày 11
tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm
2025, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Quý E, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ B, ấp
T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang.
2.Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1979; Nơi cư trú: tổ A, khóm K,
phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam
Đ1, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.
Các đương sự có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Nguyễn Thị Quý E trình bày: Bà Quý E và ông D được gia đình mai mối
và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường phường C,
thành phố C vào ngày 17 tháng 4 năm 2010. Quá trình sống hạnh phúc, đến năm
2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi
nhau, hiện ông D đang chấp hành án nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh
nhạt. Nhận thấy, tình cảm đã không còn, hôn nhân không thể hàn gắn nên bà
Quý E yêu cầu được ly hôn với ông D.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Quý E và ông D có 01 con
chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 11/11/2011, bà Quý E yêu cầu được nuôi
dạy con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Ý kiến trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn D: Thống nhất theo đơn khởi
kiện của nguyên đơn về điều kiện đi đến hôn nhân. Do vợ chồng sống xa cách,
không còn quan tâm lẫn nhau nên ông D đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Quý
E. Về con chung 01 con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 11/11/2011 hiện
đang sống cùng Quý E nên ông D đồng ý giao con chung cho Quý E tiếp tục
nuôi dạy và ông D không cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung:
không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông D nhưng ông D có
đơn xin vắng mặt không tham gia phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa nên
không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại
Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực
hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong
hồ sơ vụ án và căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Quý E được ly hôn với ông Nguyễn Văn
D.Về con chung giao cháu Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 11/11/2011 cho bà
Nguyễn Thị Quý E tiếp tục nuôi dạy, ông D không cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra
xem xét.
Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Quý E khởi kiện yêu cầu ly hôn với
ông Nguyễn Văn D, ông D cư trú tại thành phố C. Xét đây là tranh chấp về hôn
nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản
1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có
yêu cầu vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên
đơn, bị đơn như theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Quý E và ông Nguyễn Văn D
chung sống với nhau từ năm 2010, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường
C, thành phố C, tỉnh An Giang vào ngày 17 tháng 04 năm 2010, quyển số
01/2010 là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm
sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có
thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia
các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ
lẫn nhau. Tòa án cũng ghi nhận ý kiến bị đơn ông Nguyễn Văn D đồng ý ly hôn
theo yêu cầu của bị đơn nhưng hiện đang chấp hành án nên không tham gia
phiên hòa giải, phiên tòa.
Từ những căn cứ nêu trên, nhận thấy mâu thuẫn gia đình giữa bà Quý E
và ông D là trầm trọng, đã không còn chung sống với nhau, vợ chồng không ai
quan tâm, chăm sóc cho ai, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân
cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Quý E1 việc ly hôn với ông D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Các đương sự thống nhất có 01 con chung Nguyễn
Thành Đ, sinh ngày 11/11/2011. Bà Quý E yêu cầu nuôi dạy con chung và không
yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
Từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung đến nay,
cháu Nguyễn Thành Đ sống cùng với bà Quý E, được bà Quý E chăm sóc và
cho đi học. Bà Quý E có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp
với nguyện vọng của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của
bà Quý E, giao cháu Nguyễn Thành Đ cho bà Quý E tiếp tục nuôi dạy; ông D
không cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Quý E cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông
D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự thống nhất khai không có
và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Quý E phải
chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Quý E đã nộp. Ông D không phải chịu án
phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Quý E.
[1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Quý E được ly hôn với ông Nguyễn Văn
D.
[2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Quý E và ông Nguyễn Văn D có 01 con
chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 11/11/2011; Giao cháu Đ cho bà Nguyễn
Thị Quý E tiếp tục nuôi dạy, ông D không cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Quý E cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được
cản trở ông D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Tài sản chung và nợ chung: Không có.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Quý E phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn
nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm
đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0004204 ngày 11 tháng
11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà Nguyễn
Thị Quý E đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Văn D không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Quý E ly hôn Nguyễn Văn D
