|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do– Hạnh phúc |
Bản án số:10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07-02-2025
V/v tranh chấp “ Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
***
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Kiệt
- Bà Lê Thị Bé Bảy.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Lễ – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 468/2027/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-HN ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08/01/2025 giữa các đương sự:
- 1. Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc H, sinh năm 1992.
- Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- 2. Bị đơn: Anh Lê Tấn H1, sinh năm 1982.
- Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
( Chị H có mặt, anh H1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Trần Ngọc H trình bày: chị và anh Lê Tấn H1 cưới nhau từ năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 05/10/2022. Thời gian chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, tính tình không phù hợp. Nhận thấy hiện tại chị đã không còn tình cảm với anh H1 nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung, chị và anh H1 có 02 con chung tên Lê Khánh V sinh ngày 27/7/2023 và Lê Minh Phát sinh ngày 27/7/2023. Ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Lê Tấn H1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh không đến Tòa án và không nộp bất kỳ văn bản ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Tấn H1, yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con, bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng còn bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung theo lập luận nêu tại bài phát biểu. Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Giao Lê Khánh V sinh ngày 27/7/2023 và Lê Minh Phát S ngày 27/7/2023 cho chị H nuôi dưỡng, ghi nhận chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1].Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Trần Ngọc H yêu cầu được ly hôn với anh Lê Tấn H1 có địa chỉ tại thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định là tranh chấp ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
[2 ]. Sự có mặt của các đương sự: Bị đơn không có đơn xin xét xử vắng mặt, và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3 ]. Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh H1 cưới nhau vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới chị H và anh H1 chung sống hạnh phúc, nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị H khẳng định không thể hàn gắn với anh H1 vì chị không còn tình cảm, chị đã cho anh H1 nhiều thời gian để vợ chồng hàn gắn tình cảm vẫn không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.
[3.2]. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân của chị H và anh H1 là không thể hàn gắn, vì không có sự vun đắp, xây dựng gia đình từ hai phía, thời gian sống ly thân dài, nhưng cả hai vẫn không có biện pháp hàn gắn lại tình cảm. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, và cũng không có văn bản trình bày ý kiến hợp lệ xem như từ bỏ các quyền của mình theo quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn chị H, cho chị H được ly hôn với anh H1.
[3.3]. Về nuôi con chung: Đối với con chung tên Lê Khánh V sinh ngày 27/7/2023 và Lê Minh Phát sinh ngày 27/7/2023 hiện đang sống cùng với chị H. Xét thấy, hiện tại hai cháu Khánh V và Minh P chưa đủ 36 tháng tuổi, chị H hiện đang chăm sóc và nuôi dưỡng hai cháu, anh H1 cũng không có văn bản ý kiến đối với việc nuôi con khi ly hôn. Do đó, yêu cầu đựợc nuôi con của chị H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[3.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: chị H có việc làm với thu nhập ổn định và không có yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.5]. Về tài sản chung và nợ chung: chị H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
[4]. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 110 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Ngọc H.
- - Về hôn nhân: chị Trần Ngọc H được ly hôn với anh Lê Tấn H1.
- - Về con chung: Giao cháu Lê Khánh V sinh ngày 27/7/2023 và Lê Minh Phát S ngày 27/7/2023 cho chị Trần Ngọc H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Lê Tấn H1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị H chưa có yêu cầu.
- Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:
- - Chị Trần Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006637 ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H1 vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Trúc Linh |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1.Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc Hân, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. 2. Bị đơn: Anh Lê Tấn Hùng , sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
