Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠ HUOAI

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 04 - 4 - 2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đinh Duy Toàn
  • Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Hữa Vĩnh
  • 2. Bà Đỗ Hà Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Quyên - Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hán Văn V, sinh năm: 1978; Trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị đơn: Bà Đào Thị C, sinh năm: 1977; Trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt, nhưng có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Hán Văn V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hán Văn V (ông V) và bà Đào Thị C (bà C) tìm hiểu nhau tự nguyện thì tiến tới hôn nhân có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 06/12/1999 hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn đến năm 2000 vợ chồng ông V, bà C về sinh sống tại huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cho đến nay. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống cải vã nhau thường xuyên, về làm ăn kinh tế và không có tiếng nói chung trong mọi vấn đề, ông V đã cố hàn gắn tình cảm nhưng không kết quả. Vợ chồng vẫn sống chung nhưng mạnh ai người đó sống không còn quan tâm đến nhau, tình cảm dành cho bà C không còn, mục đích hôn nhân không đạt, về mâu thuẫn vợ chồng ông V, bà C thì hai bên nội và ngoại ở xa nên cũng không biết.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông V đề nghị Tòa án dân huyện Đ giải quyết cho ông V được ly hôn với bà Đào Thị C.

Về con chung: Vợ chồng ông V, bà C có 04 người con chung là cháu Hán Thị Thu H, sinh ngày 18/05/2001; cháu Hán Tuyết N, sinh ngày 03/9/2005 hiện hai cháu đã tự lập và trưởng thành, đối với cháu Hán Tuyết N1, sinh ngày 05/8/2011 và cháu Hán Tuyết V1, sinh ngày 05/10/2014 hiện nay đang sống với bà C, nếu toà án giải quyết ly hôn ông V đồng ý giao cháu N1, cháu V1 cho bà Đào Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu cho đến khi đủ 18 tuổi, Ông V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ/02 cháu (ba triệu đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 03/2025 cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, về nợ chung: Ông Hán Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/10/2024, bị đơn bà Đào Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị C và ông Hán Văn V tìm hiểu hơn 01 năm thì tiến tới hôn nhân, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 06/12/1999 hôn nhân tự nguyên đúng quy định pháp luật. Năm 2000, vợ chồng cùng nhau vào huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng sinh sống cho đến nay. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2019, mới xảy ra mâu thuẫn do ông V ham chơi cờ bạc, quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không còn chung thuỷ với bà C, bà đã góp ý nhiều lần nhưng tính tình ông V không thay đổi, còn hành hung đánh đập bà C nhiều lần, gây thương tích đau đớn, bà C có báo chính quyền địa phương xuống để chứng kiến sự việc trên. Được thời gian lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, ông V gây ra cho bà C rất nhiều tổn thương, tình cảm yêu thương vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc sống ly thân từ ngày 04/10/2024 cho đến nay. Bà C mong muốn vợ chồng quay về sinh sống đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, trường hợp ông V cương quyết ly hôn thì bà C cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 04 người con chung là cháu Hán Thị Thu H, sinh ngày 18/05/2001; cháu Hán Tuyết N, sinh năm 03/9/2005 hiện hai cháu đã tự lập và trưởng thành, đối với cháu Hán Tuyết N1, sinh ngày 05/8/2011 và cháu Hán Tuyết V1, sinh ngày 05/10/2014, ly hôn bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu N1, cháu V1 đến khi đủ 18 tuổi, ông Hán Văn V phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 3.000.000đ/02 cháu (ba triệu đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 03/2025 cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, về nợ chung: Bà Đào Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Đào Thị C có đơn xin vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Hán Văn V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình là được ly hôn với bà Đào Thị C vì ông đã nộp đơn ly hôn ra toà án hai lần nhưng sau đó rút đơn với mục đích tạo cơ hội cho bà C đổi cách cư xử, không để con thiếu vắng tình cha mẹ, tuy nhiên, sau khi rút đơn mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi tính cách, tiếp tục phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, hôn nhân không có hạnh phúc. Về con chung: Vợ chồng ông V, bà C khai có 04 người con chung là cháu Hán Thị Thu H, sinh ngày 18/05/2001; cháu Hán Tuyết N, sinh năm 03/9/2005 hiện hai cháu đã tự lập và trưởng thành, đối với cháu Hán Tuyết N1, sinh ngày 05/8/2011 và cháu Hán Tuyết V1, sinh ngày 05/10/2014 hiện nay đang sống với bà C, nếu toà án giải quyết ly hôn ông V đồng ý giao cháu N1, cháu V1 cho bà Đào Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu cho đến khi đủ 18 tuổi, Ông Viện tự nguyện có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 4.000.000đ/02 cháu (bốn triệu đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 04/2025 cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, về nợ chung: Ông Hán Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn bà Đào Thị C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông Hán Văn V được ly hôn với bà Đào Thị C; về con chung: Giao hai con chung tên Hán Tuyết N1, sinh ngày 05/8/2011 và cháu Hán Tuyết V1, sinh ngày 05/10/2014 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Ông Hán Văn V tự nguyên có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 4.000.000đ/02 cháu (bốn triệu đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 04/2025 cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Đối với cháu Hán Thị Thu H, sinh ngày 18/05/2001 và cháu Hán Tuyết N, sinh ngày 03/9/2005 hiện hai cháu đã tự lập và trưởng thành; về tài sản chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không đề cập; về nợ chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến; về án phí: Nguyên đơn ông Hán Văn V phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và sau khi nghe ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại P, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Hán Văn V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai giải quyết được ly hôn với bà Đào Thị C. Bị đơn bà Đào Thị C có địa chỉ trú trú tại tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, đây là tranh chấp về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    2. Về sự vắng mặt của đương sự:

      Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Đào Thị C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đào Thị C.

  2. Về nội dung tranh chấp:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hán Văn V và bà Đào Thị C đã được UBND xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/12/1999 việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông Hán Văn V và bà Đào Thị C là hợp pháp.

      Cả ông Hán Văn V và bà Đào Thị C đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông V là do vợ chồng bất đồng trong nhiều vấn đề của cuộc sống hàng ngày, vợ chồng không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi vã. Còn theo bà C nguyên nhân mâu thuẫn là do do ông V ham chơi cờ bạc, quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không còn chung thuỷ bà C đã góp ý nhiều lần nhưng tính tình ông V không thay đổi, còn hành hung đánh đập bà nhiều lần, gây thương tích đau đơn, bà C có báo chính quyền địa phương xuống để chứng kiến sự trên. Được thời gian lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, ông V gây ra cho bà C rất nhiều tổn thương, tình cảm yêu thương vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc. Vợ chồng ông V, bà C đã sống ly thân từ ngày 04/10/2024 cho đến nay

      Ngày 16 tháng 01 năm 2025, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND thị trấn M, huyện Đ có ông Dương Ngọc T (bút lục 32) là cán bộ tư pháp thì được biết: “... Năm 2000, vợ chồng cùng nhau vào huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng sinh sống cho đến nay... mâu thuẫn đã lâu, bất đồng về cách làm kinh tế, tình cảm vợ chồng không còn, cải vã nhau thường xuyên, bà C đồng ý ly hôn với điều kiện ông V phải giao tài sản cho bà”.

      Ngày 14 tháng 03 năm 2025, Tòa án xác minh tại tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Đ có ông Nguyễn Văn P (bút lục 33) là tổ trưởng cho biết: “Trong quá trình chung sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn vài năm nay...”.

      Mặt khác, ngày 14 tháng 03 năm 2025 Tòa án đã tiến hành xác minh tại Hội phụ nữ thị trấn M, huyện Đ có bà Vũ Thị L (bút lục 34) thì được biết: “...chưa nghe xảy ra mâu thuẫn gì vì không nhờ đến Hội phụ nữ tổ dân phố cũng như tổ hoà giải của UBND thị trấn ”.

      Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa ông V, bà C là có xảy ra trên thực tế và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khó hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

      Tại phiên tòa, ông V vẫn cương quyết giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bà C. Trong khi biên bản ghi lời khai bà C thể hiện ý kiến bà thấy vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2024 nên tình cảm không còn, thực tế bà cũng muốn ly hôn để giải thoát cho cả hai. Tuy nhiên, bà C mong muốn vợ chồng quay về sinh sống đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, trường hợp ông V cương quyết ly hôn thì bà C cũng đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hán Văn V, cho ông Hán Văn V được ly hôn với bà Đào Thị C là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    2. Về con chung: Ông Hán Văn V và bà Đào Thị C đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có 04 người con chung là cháu Hán Thị Thu H, sinh ngày 18/05/2001; cháu Hán Tuyết N, sinh ngày 03/9/2005 hiện hai cháu đã tự lập và trưởng thành, đối với cháu Hán Tuyết N1, sinh năm 05/8/2011 và cháu Hán Tuyết V1, sinh ngày 05/10/2014. Bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu N1 và cháu V1 cho đến khi trưởng thành. Còn ông V thể hiện ý kiến trường hợp ly hôn thì ông đồng ý giao hai cháu N1 và cháu V1 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.

      Xét thấy việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải xem xét đến sự đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt của con. Hiện nay, hai cháu N1, cháu V1 đang do bà C nuôi dưỡng. Bà C thể hiện ý kiến được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu cho đến khi đủ 18 tuổi. Tại khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Các cháu Hán Tuyết N1, sinh năm 05/8/2011 và cháu Hán Tuyết V1, sinh ngày 05/10/2014 đến nay đã trên 7 tuổi nên phải xem xét đến nguyện vọng của cháu. Tại các bản tự khai ngày 24/10/2024, ngày 14/3/2025, các cháu đều thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao hai con chung tên Hán Tuyết N1, sinh năm 05/8/2011 và cháu Hán Tuyết V1, sinh ngày 05/10/2014 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Ông Hán Văn V tự nguyện có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 4.000.000đ/02 cháu (bốn triệu đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 04/2025 cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

      Đối với, cháu Hán Thị Thu H, sinh ngày 18/05/2001; cháu Hán Tuyết N, sinh ngày 03/9/2005 hiện hai cháu đã tự lập và trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

    3. Về tài sản chung: Ông Hán Văn V và bà Đào Thị C đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
    4. Về nợ chung: Ông Hán Văn V và bà Đào Thị C đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  3. Về án phí: Nguyên đơn ông Hán Văn V phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn bà Đào Thị C không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  4. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 175, 177, 205, 207, 220, 227, 228, 262 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Hán Văn V đối với bị đơn bà Đào Thị C.

    Cho ông Hán Văn V và bà Đào Thị C được ly hôn.

  2. Về con chung: Giao hai con chung tên Hán Tuyết N1, sinh năm 05/8/2011 và cháu Hán Tuyết V1, sinh ngày 05/10/2014 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Ông Hán Văn V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 4.000.000đ/02 cháu (bốn triệu đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 04/2025 cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về tài sản chung; nợ chung: Ông Hán Văn V và bà Đào Thị C đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí: Ông Hán Văn V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0007578 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai, ông V còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Bà Đào Thị C không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Đào Thị C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Đạ Huoai;
  • - Chi cục THADS huyện Đạ Huoai;
  • - UBND xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đinh Duy Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ - ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI - TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Hán Văn V đối với bị đơn bà Đào Thị C. Cho ông Hán Văn V và bà Đào Thị C được ly hôn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger