Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THƯỜNG TÍN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 10/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 03/4/2025

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Trí.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Kim Vân và ông Nguyễn Đăng Bôi.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Phạm Thúy Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 03/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 296/2024/TLST - HNGĐ ngày 24/10/2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXX-ST ngày 07/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994, trú tại: Thôn B, B, huyện B, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1992; trú tại: Thôn N, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. (Xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện, các chứng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Thế Tập kết H1 năm 2023, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hà Nội, ngày 18/12/2023. Sau kết hôn hai vợ chồng đều sống tại nhà chồng tại thôn N, xã H. Nghề nghiệp đều lao động tự do.

Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được gần một năm đầu và kể từ khi tôi bắt đầu sinh con, vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn, không còn yêu thương lẫn nhau, chủ yếu là bất đồng quan điểm trong cách sống, cách nghĩ nên xảy ra cãi vã thường xuyên ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Tình trạng như vậy ngày càng kéo dài, làm cho chúng tôi căng thẳng, mệt mỏi, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Đầu tháng 03/2024, tôi đã chủ động ly thân (về nhà đẻ ở) không còn chung sống với anh T.

Nay tôi xét thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên tôi làm đơn này đề nghị Tòa xem xét giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Thế T và xin từ chối hòa giải.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung (sinh đôi) là Nguyễn Hạ Ái N, sinh ngày 06/02/2024 và Nguyễn Hạ Ái V, sinh ngày 06/02/2024. Hiện các con đang ở với tôi, do các cháu còn nhỏ, lại sinh non, sức khỏe kém. Ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tôi không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về thu nhập thực tế của tôi hiện tại chưa có (do nuôi 02 con nhỏ) nhưng tôi vẫn xin nuôi các con. Về kinh tế mặc dù trước mắt chưa có thu nhập nhưng trước đây tôi đi lao động xuất khẩu vẫn còn tích trữ một khoản tài sản cũng đủ để chi phí trước mắt cho gia đình; một mặt do các cháu còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), cần sự chăm sóc của người mẹ và hỗ trợ của mọi người trong gia đình đẻ tôi. Hiện tại các con ở với tôi đều đảm bảo cả về vật chất và tinh thần không để các cháu thiếu thốn về mọi mặt.

Về tài sản chung, công sức và công nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

*Bị đơn trong các bản khai và qua công khai chứng cứ và hòa giải anh Nguyễn Thế T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và cô H kết hôn năm 2023, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hà Nội, ngày 18/12/2023. Sau kết hôn hai vợ chồng đều sống tại nhà đẻ tôi tại thôn N, xã H. Nghề nghiệp đều lao động tự do.

Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc và kể từ khi vợ chồng sinh con (sinh đôi), các con sinh non cần phải chăm sóc và nuôi dưỡng (dưỡng bệnh) nên cô H cùng các con về nhà đẻ để ở cho tiện người chông nom (từ tháng 3/2024). Do khoảng cách về địa lý, công việc, do vậy tôi ít có thời gian chăm sóc 03 mẹ con dẫn đến vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn, thỉnh thoảng tôi có lên thăm nom và chăm sóc 03 mẹ con cả về tình cảm và vật chất nhưng về phía cô H không mở lòng. Nay cô H có đơn xin ly hôn, tôi xét thấy tình cảm về phía tôi vẫn còn và vẫn mong muốn được đoàn tụ. Trường hợp cô H2 kiên quyết xin ly hôn thì tôi đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chúng tôi có hai con chung là Nguyễn Hạ Ái N, sinh ngày 06/02/2024 và Nguyễn Hạ Ái V, sinh ngày 06/02/2024. Hiện các con đang ở với cô H (Thôn B, B, huyện B). Ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 cháu. Về cấp dưỡng không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về thu nhập thực tế của tôi hiện tại khoảng 15 triệu/tháng (làm thuê sản xuất đồ nhựa).

Về tài sản chung, công sức và công nợ chung: Không yêu cầu tòa giải quyết.

* Đại diện gia đình cô H (ông C và bà T1 là bố mẹ đẻ cô H): Đều nhất trí với quan điểm của cô H xin được ly hôn anh T. Trường hợp cô H và anh T ly hôn và giao 02 con cho cô H được chăm sóc nuôi dưỡng thì gia đình cũng nhất trí và hỗ trợ cô H về kinh tế, công sức để nuôi dưỡng và chăm sóc hai cháu. Đề nghị Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Xác minh tại UBND xã H cho thấy: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18/12/2023 và sinh được 02 con như anh, chị trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến chị H và anh T sống ly thân từ tháng 03/2024 cho đến nay. Nay chị H3 có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh T xin xét xử vắng mặt nhưng quá trình thu thập tài liệu chứng cứ và hòa giải, anh T xin được đoàn tụ, đưa ra và thực hiện các giải pháp (chủ yếu xin có thời gian) nhưng cô H không chấp nhận và xin từ chối hòa giải. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên toà trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền; thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng; các đương sự như nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Trên cơ sở nội dung vụ án và diễn biến tại phiên tòa; Căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, cần xử cho chị Nguyễn Thi H4 được ly hôn anh Nguyễn Thế T.

Về con chung: Để đảm bảo quyền lợi của các con (dưới 36 tháng tuổi) cũng là nguyện vọng của chị H4 và gia đình. Đề nghị giao cả 02 con chung cho chị H4 được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Anh T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị H4 không yêu cầu nên cần tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T cho đến khi chị H4 có yêu cầu hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Về tài sản, công sức, các khoản vay, cho vay của vợ chồng: Chị H4 không đề nghị nên không đặt ra để xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị H4 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H4 và anh T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 - Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Anh Nguyễn Thế T là bị đơn có ĐKTT và trú tại Thôn N, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Vì vậy, căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án giao, gửi và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, có mặt chị H4, anh T xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Tập kết H1 trên cơ sở tự nguyện, có sự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hà Nội, ngày 18/12/2023. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, theo chị H vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được gần một năm đầu và kể từ khi chị bắt đầu sinh con, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn yêu thương lẫn nhau, chủ yếu là bất đồng quan điểm trong cách sống, cách nghĩ nên xảy ra cãi vã thường xuyên ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Tình trạng như vậy ngày càng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được dẫn đến đầu tháng 03/2024, chị đã chủ động ly thân (cùng các con về nhà đẻ ở) không còn chung sống với anh T và đề nghị Tòa giải quyết cho vợ chồng được ly hôn và xin từ chối hòa giải.

Về phía anh T quá trình tố tụng tại tòa vẫn mong muốn được đoàn tụ và đưa ra các giải pháp xin một thời gian trước, trong và sau tết (âm lịch Ất Tỵ) để có thời gian đi lại, chăm sóc các con và cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả. Do khoảng cách về địa lý, công việc, do vậy anh ít có thời gian chăm sóc 03 mẹ con dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thỉnh thoảng anh có lên thăm nom và chăm sóc 03 mẹ con cả về vật chất, lẫn tinh thần nhưng về phía chị H không mở lòng. Qua xác minh tại UBND xã và quan điểm của đại diện gia đình chị H và của chị H và anh T. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị H và anh T là thật sự trầm trọng, thời gian sống ly thân đã lâu, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H và cần xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh, chị sinh được 02 con chung (sinh đôi) là Nguyễn Hạ Ái N, sinh ngày 06/02/2024 và Nguyễn Hạ Ái V, sinh ngày 06/02/2024. Hiện các con đang ở với chị H tại nhà ngoại tại thôn B, huyện B, thành phố Hà Nội, từ sau khi sinh, do các con sinh non, sức khỏe yếu, thường xuyên đi viện và hiện tại các con đều dưới 36 tháng tuổi cần có sự chăm sóc của người mẹ và sự đỡ đần của gia đình. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con (vì đã có gia đình nhà đẻ cùng chăm sóc các con đảm bảo cả chỗ ăn, ở, điều kiện kinh tế lẫn người chông nom). Đại diện gia đình chị H có cùng quan điểm với chị H, đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, gia đình có trách nhiệm hỗ trợ nuôi con như cô H đã trình bày. Về phía anh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 cháu. Về cấp dưỡng không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ly hôn các bên đều có nguyện vọng nuôi con và đều chứng minh về thu nhập và các biện pháp đảm bảo khi nuôi con. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các con chung chưa thành niên (dưới 36 tháng tuổi) các cháu cần sự chăm sóc của người mẹ và cũng là nguyện vọng chị H. Hội đồng xét xử xét thấy: Cần giao cả 02 con chung là Nguyễn Hạ Ái N và Nguyễn Hạ Ái V cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh T có quyền đi lại thăm hỏi, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác.

[5] Về tài sản, công sức, các khoản vay và cho vay của vợ chồng: Chị H không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho các bên đương sự ở một vụ án khác nếu có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị H và anh T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Thế T;

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thế T.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế T có 02 con chung là Nguyễn Hạ Ái N, sinh ngày 06/02/2024 và Nguyễn Hạ Ái V, sinh ngày 06/02/2024. Giao cả 02 con chung là Nguyễn Hạ Ái N và Nguyễn Hạ Ái V cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Anh Nguyễn Thế T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác.

4. Về tài sản, công sức, các khoản vay và cho vay của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0016485 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín.

6. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thường Tín;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Thường Tín;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Duy Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ - ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Thế T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger