Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 02 tháng 4 năm 2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

***

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng

Ông Phạm Ngọc Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Từ Thị T, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng.

2. Bị đơn: Anh Trần Công C, sinh năm 1983;

Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng.

Hiện đang chấp hành án tại: Đội phạm nhân số A, phân trại số B, Trại giam N, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa: Vắng mặt chị T, anh C (Đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 02 năm 2025, bản tự khai ngày 20/2/2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Từ Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Ngày 03/7/2010 chị Từ Thị T và anh Trần Công C tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, huyện V, thành phố Hải Phòng theo giấy chứng nhận kết hôn số 25 - 2010, quyển số 01.2007.Thời gian từ năm 2010 đến năm 2018 vợ chồng cùng các con chung sống hạnh phúc. Từ năm 2019 anh C không tập trung chăm lo cho gia đình mà chơi bời cờ bạc, anh C bị Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xử phạt án treo về hành vi đánh bạc. Sau thời gian đó chị T có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh C không nghe, vẫn tiếp tục chơi bời cờ bạc, mâu thuẫn vợ chồng liên tục nảy sinh khiến gia đình không hạnh phúc, vui vẻ. Mâu thuẫn lớn dần khiến vợ chồng không thể tháo gỡ, gia đình và bạn bè nhiều lần khuyên bảo nhưng anh C không thay đổi. Những mâu thuẫn, cãi vã khiến vợ chồng không còn tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau. Đến ngày 28/12/2022 anh C bị bắt và bị xét xử do hành vi đánh bạc và mua bán trái phép chất ma tuý, hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội phạm nhân số 12, phân trại số 2 Trại giam N, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn nên chị T yêu cầu giải quyết cho được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là cháu Trần Bảo L, sinh ngày 07/5/2017 và cháu Trần Trung D, sinh ngày 01/9/2011. Hiện nay, hai cháu đang ở với chị T. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 22/02/2025, bị đơn anh Trần Công C khai: Xác nhận thời gian kết hôn, thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc đúng như chị T khai. Năm 2019 anh C có tham gia tệ nạn xã hội là cờ bạc và bị Toà án xử án treo, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể tháo gỡ, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Ngày 20/12/2022 anh C bị bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam N. Chị T có đơn xin ly hôn, anh đồng ý. Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Trần Bảo L, sinh ngày 07/5/2017 và cháu Trần Trung D, sinh ngày 01/9/2011. Sau khi ly hôn, chị T xin nuôi hai con chung, anh đồng ý. Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung nên anh không yêu cầu giải quyết.

Tại Biên bản hoà giải ngày 05/3/2025, anh Trần Công C nhất trí ly hôn với chị T. Về con chung, anh C có nguyện vọng được nuôi cháu Trần Bảo L, sinh ngày 7/5/2017 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại đơn xin trình bày nguyện vọng ngày 22/2/2025, cháu Trần Bảo L và cháu Trần Trung D đều có nguyện vọng được ở với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền: Chị Từ Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Trần Công C và giải quyết việc nuôi con chung, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Công C đang chấp hành án tại Trại giam N thuộc xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân:

Chị Từ Thị T và anh Trần Công Chung kết H trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, huyện V, thành phố Hải Phòng đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh C đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, đến năm 2022 anh C vi phạm pháp luật phải chấp hành án phạt tù. Chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu giải quyết ly hôn. Anh C xác định mâu thuẫn vợ chồng, đồng ý ly hôn.

Như vậy, mâu thuẫn giữa chị T và anh C đã kéo dài và ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn lại tình cảm. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh C là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là cháu Trần Bảo L, sinh ngày 07/5/2017 và cháu Trần Trung D, sinh ngày 01/9/2011. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, anh C yêu cầu được nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Trần Bảo L.

Xét thấy: Anh Trần Công C đang phải chấp hành án nên không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Hiện hai con chung là cháu Trần Bảo L và cháu Trần Trung D đang được chị Từ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu L, cháu D cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy cần tiếp tục giao cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L, cháu D đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, chị T đang là lao động tự do, có thu nhập bình quân hàng tháng đảm bảo nuôi dưỡng cháu L, cháu D; hiện anh C đang chấp hành án, không có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con, việc chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng là tự nguyện, cần được chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung và công nợ: Chị Từ Thị T và anh Trần Công C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Từ Thị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Từ Thị T, cho ly hôn giữa chị Từ Thị T và anh Trần Công C. Quan hệ hôn nhân của chị Từ Thị T và anh Trần Công C chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Từ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Bảo L, sinh ngày 07/5/2017 và cháu Trần Trung D, sinh ngày 01/9/2011 cho đến khi cháu L, cháu D thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Anh Trần Công C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Từ Thị T phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn, số tiền án phí phải nộp được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002486 ngày 13/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Hoa Lư;
  • - Chi cục THADS thành phố Hoa Lư;
  • - UBND phường Vĩnh Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Diệu Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ - ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh C và giải quyết việc nuôi con chung do mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger