Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-PT

Ngày 23-6-2025

V/v Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị KIm Hằng và ông Ngô Thế Tương

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2025/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc “ Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.

Do Bản án số 09/2025/HNGĐ - ST ngày 04/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 57/2025/QĐXX-PT ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1961

Bị đơn: Bà Trần Thị N - sinh năm 1963 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1988
  • - Chị Bùi Thị L – sinh năm 1985 (tên khác là: L1)

Đều có địa chỉ: thôn Công Bồi Tây, xã Phương Công, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Người kháng cáo: Bà Trần Thị N, anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Thị L (Có mặt ông T, bà N, anh T1, chị L)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại bản án sơ thẩm số 72/2023/HNGĐ-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã xử:

  1. Về hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Văn T ly hôn bà Trần Thị N.
  2. Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị N có 03 con chung là Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; Nguyễn Thị L2, sinh năm 1984 và Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1988. Hiện cả 3 con chung đều đã trưởng thành.
  3. Về quan hệ tài sản:
    • + Chia giao cho ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng thửa đất số 622, 624 theo hiện trạng đo đạc là 709,7m2 đều tờ bản đồ số 5, đo đạc năm 1995, địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trong đó 365m2 đất ở; 250m2 đất ao; 94,7m2 đất vườn tạp. Ông T được quyền sở hữu toàn bộ các tài sản trên đất: 01 nhà mái bằng 66,1m2; 01 công trình phụ 32,6m2; 01 nhà bếp mái bằng 18,3m2; 01 nhà chăn nuôi 32,1m2; 01 nhà tắm 3,1m2; Sân, lối đi bê tông 10m2; 01 bể nước 6m3; Sân lát gạch 129,3 m2; ngõ bê tông 50,6m2; Các cây trồng trên đất gồm (01 cây hồng xiêm, 03 cây tranh, 02 cây đu đủ, 02 cây xoài nhỏ, 02 cây đào nhỏ; 01 cây cóc, 01 cây sung, 01 cây hoa ngọc nữ, 01 cây hoa giấy).
    • + Chia giao cho bà Trần Thị N thửa đất 343, tờ bản đồ số 5, đo đạc năm 1990, địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình. Diện tích theo hiện trạng 772,5m2, trong đó có 400m2 đất ở, 372,5m2 đất trồng cây lâu năm. Bà N được quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm 01 nhà mái bằng 32,9m2; 01 nhà công trình phụ 33,1m2; 01 nhà tạm 12,8m2; 01 nhà chăn nuôi 32,1m2; 01 sân láng vữa 127,1m2; bể nước 2m3; các cây trồng trên đất gồm (01 cây bưởi; 05 cây mít; 02 cây na; 01 cây hoè; 15 khóm chè; 06 cây đinh lăng nhỏ; 10 khóm chuối).
    • + Anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Thị L được đồng sở hữu số tiền 94.944.000đ. Trong đó buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm thanh toán trả cho anh T1 và chị L số tiền 84.325.000đ; buộc bà Trần Thị N có trách nhiệm thanh toán trả cho anh T1 và chị L 10.619.000₫.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho đương sự.

* Tại Bản án số 11/2024/HNGĐ - PT ngày 17/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình tuyên xử:

  1. Giữ nguyên phần quyết định về quan hệ hôn nhân của bản án sơ thẩm số 72/2023/HNGĐ - ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình: Xử cho ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Trần Thị N.
  2. Huỷ phần quyết định về chia tài sản chung và nợ chung của bản án sơ thẩm số 72/2023/HNGĐ - ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm do cấp sơ thẩm đã xác định sai giá trị tài sản chung của ông T, bà N cũng như buộc bà N phải trả cho anh T1, chị L tiền anh chị đóng góp xây dựng nhà trên thửa 622, 624 trong khi giao quyền sở hữu các tài sản trên đất này cho ông T. Mặt khác còn các tài sản anh T1, chị L đóng góp xây dựng trên đất như mở rộng ngõ và xây dựng bờ ao, đổ cột bê tông phía dưới ngõ (3 cột trụ bê tông cao 2m), làm đường điện và số tiền 12.000.000₫ anh T1 góp cùng ông T mua xe máy chưa được xem xét.

* Quá trình giải quyết lại vụ án Nguyên đơn – Ông Nguyễn Văn T trình bày:

  • + Các thửa đất 622, 624 tờ bản đồ số 5, đo đạc năm 1995 diện tích theo hiện trạng là 709,7m2 là di sản bố mẹ ông cho ông đã được cấp GCNQSDĐ mang tên ông là tài sản riêng của ông. Các tài sản xây dựng trên đất của ông và bà N: 01 nhà mái bằng 66,1m2; 01 nhà công trình phụ 32,6m2; 01 lán chăn nuôi mái bro 32,1m2; 01 nhà tắm 3,1m2; sân và lối đi bê tông 10m2; 01nhà tạm mái tôn 12,2m2; 01 bể nước 6m3; bờ tường bao quanh 44m2; khối lượng vượt lập ao 153m3; 01 cửa nhôm kính thông phòng 2,58m2.
  • + Thửa đất 343, tờ bản đồ số 5, đo đạc năm 1990 diện tích theo hiện trạng là 772,5m2. Tài sản trên đất này: Cây trồng (40 khóm chuối, 02 cây bưởi, 02 cây na, 11 gốc đào, 09 cây mít, 03 cây ổi) là của bà N, 01 nhà mái bằng 32,9 m2, bể nước 2m3 là của bố mẹ bà N để lại ông không có ý kiến gì. Đối với các tài sản là 01 nhà tạm mái bro 32,1m2, 01 lán tạm 12,8m2, 01 lán tạm chăn nuôi 28,5m2, sân láng vữa 127,1m2, tường dấu gạch xỉ 128,88 m2 là của ông và bà N.
  • + Về tài sản của T1, L đã sửa chữa, làm mới trên các thửa đất 622, 624 là: (lát nền gạch 66,1m2; ốp tường gạch 198,3m2; làm trần nhựa 66,1m2; 01 cửa thông phòng 1,54m2; 03 cửa sổ nhôm kính 3,75m2; hệ thống đường điện vào nhà 44,2m; hệ thống điện trong nhà; T2 công sửa 02 cột trụ trước hiên nhà; S trần hè và cột trụ 8,1m2; ốp gạch đá hoa chống nóng 66,1m2; xây chèn ô sáng 0,57m3) ông có đóng góp công và cho tiền các cháu xây dựng; (sửa cây hương thờ 1,6m2; Sân lát gạch 129,3m2; ngõ bê tông 50,6m2; xây dậu võng 1,22m3; 03 trụ cột bê tông bờ ao 0,5m3; kè bờ ao 20,25 m3; cổng nhà 4,37m2; mái cổng, trụ cổng 2,02m3; bê tông láng trên mặt bờ ao) ông trả tiền công xây dựng; Mái tôn kèo thép diện tích 90,1m2; cửa lán xe, giá treo lán xe 7,52m2; mái tôn nhà bếp 18,3m2; Các cây trồng trên đất (05 cây chanh, 03 cây mít, 02 cây xoài, 01 cây khế, 01 cây cóc, 01 cây bơ, 01 cây hoa ngọc nữ, 01 cây hoa giấy, 01 cây bưởi, 01 cây hồng xiêm, 03 cây cau). 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS BKS 17K8-8567.

Quan điểm của ông T đề nghị Toà án chia cho ông quyền sử dụng thửa đất 622, 624 và được sở hữu các tài sản trên đất này. Chia cho bà N quyền sử dụng thửa đất 343. Ông sẽ có trách nhiệm thanh toán phần tài sản vợ chồng anh T1, chị L đã xây dựng trên đất; đề nghị phân chia chênh lệch tài sản theo pháp luật phần của ông và bà N. Chiếc xe máy Honda Wave RS ông để lại cho anh T1, chị L; Các tài sản chung mà bà N khai (bộ X1 4 cái, 02 máy bơm nước, 01 máy bơm xăng, 01 máy bơm điện, 02 bàn, 04 ghế, 03 cái giường, 02 cái tủ, 01 bàn thờ) nếu bà N đòi hỏi thì ông để lại hết cho bà. Về tài sản mà anh T1, chị L (lư hương, đỉnh đồng, câu đối đồng, đồ thờ đồng) là tài sản anh T1, chị L cúng tiến thờ tự, nếu anh chị đòi hỏi thì cứ mang đi, ông không có ý kiến gì.

* Bị đơn bà Trần Thị N trình bày:

  • + Bà và ông T có tài sản chung là quyền sử dụng đất 709,7m2 tại các thửa 622, 624 và 372,5m2 đất vườn tạp tại thửa 343. Đối với 400m2 đất ở tại thửa 343 là của riêng bà do là nơi bố mẹ bà ở và thờ cúng bố mẹ bà.
  • + Các tài sản chung và tài sản riêng trên thửa 622, 624 và 343 như ông T trình bày. Ngoài ra ông, bà còn tài sản chung khác: bộ X1 4 cái, 02 máy bơm nước, 01 máy bơm xăng, 01 máy bơm điện, 02 bàn, 04 ghế, 03 cái giường, 02 cái tủ, 01 bàn thờ.
  • + Tài sản mà anh T1, chị L đóng góp xây dựng trên các thửa 622, 624 như ông T trình bày về mái tôn kèo thép diện tích 90,1m2; cửa lán xe, giá treo lán xe 7,52m2; mái tôn nhà bếp 18,3m2 và các cây trồng trên đất là đúng. Đối với các tài sản khác lát nền gạch 66,1m2; ốp tường gạch 198,3m2; làm trần nhựa 66,1m2; 01 cửa thông phòng 1,54m2; 03 cửa sổ nhôm kính 3,75m2; hệ thống đường điện vào nhà 44,2m; hệ thống điện trong nhà; T2 công sửa 02 cột trụ trước hiên nhà; S trần hè và cột trụ 8,1m2; ốp gạch đá hoa chống nóng 66,1m2; xây chèn ô sáng 0,57m3; sửa cây hương thờ 1,6m2; Sân lát gạch 129,3 m2; ngõ bê tông 50,6m2; xây dậu võng 1,22m3; 03 trụ cột bê tông bờ ao 0,5m3; kè bờ ao 20,25 m3; cổng nhà 4,37m2; mái cổng, trụ cổng 2,02m3; bê tông láng trên mặt bờ ao. Ông T trình bày có đóng góp công xây dựng nhưng ông cũng được sử dụng từ đó đến này vì vậy, xác định là tài sản của anh T1, chị L.

Quá trình chung sống thì anh T1, chị L còn đóng góp các tài sản thờ cúng (lư hương, đỉnh đồng, câu đối đồng, đồ thờ đồng) và số tiền mua xe máy Honda Wave RS BKS 17K8-8567.

Quan điểm của bà là chia đôi đối với diện tích đất tại các thửa 622, 624 và thửa 343 cho bà, ông T. Đảm bảo chỗ ở cho vợ chồng T1, L và 3 con. Ai hưởng nhiều hơn thì phải thanh toán chênh lệch tài sản cho người khác. Phần tài sản anh T1, chị L làm ai được chia vào phần đó thì có trách nhiệm thanh toán cho anh T1, chị L theo giá trị. Bà đề nghị xem xét công sức của 3 con là chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị L2, anh Nguyễn Văn T1 vào việc xây dựng nhà mái bằng 66,1m2.

* Người liên quan anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Thị L đồng ý trình bày:

về các tài sản của anh, chị đã đóng góp, xây dựng, sửa chữa trên thửa đất 622, 624 như trình bày của bà N. Anh, chị xác định ông T chỉ có công sức gìn giữ, trông coi khi xây dựng các công trình mà không đóng góp tiền cùng anh, chị như ông trình bày trên. Anh, chị đề nghị Toà án xem xét công sức của hai chị gái H1, L2, anh T1 trong xây dựng nhà tại thửa 622, 624.

Chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị L2 trình bày các chị không có đòi hỏi gì về công sức của các chị trên thửa đất 622, 624. Các chị đề nghị Toà án xem xét việc chia tài sản cho mẹ các chị (bà N) nhiều hơn, bởi người có lỗi dẫn đến cuộc hôn nhân bị đổ vỡ là bố của các chị (ông T).

* Kết quả xác minh, xem xét thẩm định, định giá tài sản tại UBND xã P, huyện T thể hiện:

  • - Diện tích đất đo đạc thực tế tại các thửa 622, 624 đều tờ bản đồ số 5, đo đạc năm 1995, địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình là 709,7m2, trong đó 365m2 đất ở, 250m2 đất ao và 94,7m2 đất trồng cây lâu năm. Nguồn gốc đất này là của bố mẹ đẻ ông T cho ông T, bà N, diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên ông T. Đối với diện tích 94,7m2 vườn tạp dôi dư là sai số trong đo đạc và quá trình chung sống các hộ liền kề đổi cho đất nhau.
  • - Diện tích đất đo đạc thực tế tại thửa 343, tờ bản đồ số 5, đo đạc năm 1990, địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình là 772,5m2, trong đó 400m2 đất ở, 372,5m2 đất trồng cây lâu năm. Nguồn gốc đất này là của bố mẹ đẻ bà N cho ông T, bà N, diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên ông bà. Đối với 27,5m2 vườn tạp dôi dư là sai số trong đo đạc và quá trình chung sống các họ liền kề đổi cho đất nhau.

Trị giá quyền sử dụng đất ở là 980.000đ/1m2; trị giá quyền sử dụng đất ao là 50.000đ/1m2; trị giá quyền sử dụng đất vườn tạp là 54.000đ/1m2.

  • - Tài sản trên các thửa đất 622, 624 gồm có: bờ tường bao quanh năm 2002, diện tích 44m2 hết giá trị; nhà mái bằng xây năm 2003 diện tích 66,1m2 trị giá 58.168.000đ; Nhà công trình phụ mái bằng xây năm 2005, diện tích 32,6 m2 trị giá 22.418.107₫; nhà tạm mái tôn xây năm 2005, diện tích 12,2m2 hết giá trị; nhà tắm xây năm 2002, diện tích 3,1m2 hết giá trị; bể nước xây năm 2002, thể tích 6m3 hết giá trị; Sân lối đi bê tông xây năm 2005, diện tích 10m2 trị giá 120.594đ; Vượt lập ao là 153m3 trị giá 12.240.000đ; 01 cửa nhôm kính thông phòng năm 2008, diện tích 2,58m2 hết giá trị; lán chăn nuôi mái bro xây năm 2016, diện tích 32,1m2 trị giá 5.151.652đ; Công trình làm năm 2013: (Cây hương thờ diện tích 1,6m2 không định giá vì công trình tâm linh; Sân lát gạch, diện tích 129,3m2 trị giá 11.511.728đ; ngõ bê tông, diện tích 50,6m2 trị giá 5.491.828đ; xây dậu võng, khối lượng 1,22m3 hết giá trị; 03 trụ cột bê tông bờ ao, khối lượng 0,5m3 hết giá trị; kè bờ ao, khối lượng 20,25m3 hết giá trị; (cổng nhà, diện tích 4,37m2 và mái cổng, trụ cổng khối lượng 2,02m3) hết giá trị; bê tông láng trên mặt bờ ao, trị giá 981.845₫]; ốp gạch đá hoa chống nóng năm 2015, diện tích 66,1m2 trị giá 2.038.636₫; (cửa, giá treo) lán xe năm 2019, diện tích 7,52m2 trị giá 4.994.254₫ mái tôn nhà bếp năm 2019, diện tích 18,3 m2 trị giá 3.457.172đ; Mái tôn kèo thép làm năm 2019, diện tích 90,1m2 trị giá 26.584.546đ; các công trình làm năm 2021: [lát nền gạch, diện tích 66,1m2 trị giá 14.270.455đ; ốp tường gạch, diện tích 198,3 m2 trị giá 76.015.132đ; làm trần nhựa, diện tích 66,1m2 trị giá 8.311.434đ; cửa thông phòng, diện tích 1,54m2 giá trị 970.200đ; 03 cửa sổ nhôm kính, diện tích 3,75m2 trị giá 2.598.750đ; hệ thống đường điện dài 44,2m trị giá 2.352.196đ; Tiền công sửa 02 cột trụ trước hiên nhà 700.000đ; S trần hè và cột trụ, diện tích 8,1m2 trị giá 519.780đ; xây chèn ô sáng, khối lượng 0,57m3, trị giá 672.441đ; hệ thống điện trong nhà trị giá 8.138.900đ (theo hoá đơn)]; 05 cây chanh trị giá 750.000đ; 03 cây mít trị giá 750.000đ; 02 cây xoài trị giá 440.000đ; 01 cây khế trị giá 130.000đ; 01 cây cóc trị giá 130.000đ; 01 cây bơ trị giá 220.000đ; 01 cây hoa ngọc nữ trị giá 100.000đ; 01 cây hoa giấy trị giá 100.000đ; 01 cây bưởi trị giá 400.000đ; 01 cây hồng xiêm trị giá 230.000đ; 03 cây cau trị giá 450.000đ. Tổng giá trị các tài sản trên đất là 271.425.650đ.
  • - Tài sản trên thửa đất 343 gồm có: 01 nhà mái bằng xây năm 1985, diện tích 32,9m2 hết giá trị; 01 nhà tạm mái bro xây năm 2010, diện tích 32,1m2 trị giá 3.184.923đ; 01 lán tạm xây năm 2010, diện tích 12,8m2 hết giá trị; 01 lán tạm chăn nuôi xây năm 2010, diện tích 28,5m2 hết giá trị; sân láng vữa xây năm 2010, diện tích 127,1m2 trị giá 2.713.521đ; bể nước xây năm 1985, thể tích 2m3 hết giá trị; tường dậu gạch xỉ xây năm 2010, diện tích 128,88m2 hết giá trị; 40 khóm chuối trị giá 4.000.000đ; 02 cây bưởi trị giá 800.000đ; 02 cây na trị giá 260.000đ; 11 gốc đào trị giá 550.000đ; 09 cây mít trị giá 2.250.000đ; 03 cây ổi trị giá 750.000đ. Tổng giá trị tài sản trên đất 14.508.444.
  • - Trị giá xe máy Honda Wave RS sản xuất năm 2007 là 3.000.000₫.

Tại bản án số 09/2025/HNGĐ - ST ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 59, Điều 60; Điều 61, Điều 62, Điều 63 và Điều 64 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn của ông Nguyễn Văn T đối với bà Trần Thị N.

  1. Chia, giao cho ông Nguyễn Văn T: được quyền sử dụng thửa đất số 622, 624 đều tờ bản đồ số 5, đo đạc năm 1995 có diện tích theo đo đạc hiện trạng 709,7m2 trong đó 365m2 đất ở, 250m2 đất ao và 97m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đất có tứ cận: Phía Đông giáp đường giao thông xóm; Phía Tây giáp đất Nguyễn Văn T3; Phía Nam giáp đất Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thị G; Phía Bắc giáp đất Trịnh Văn L3 và Đoàn Thị C.

    Ông Nguyễn Văn T được sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với đất: nhà mái bằng diện tích 66,1m2; Nhà công trình phụ mái bằng diện tích 32,6 m2; Sân lối đi bê tông diện tích 10m2; 01 cửa nhôm kính thông phòng diện tích 2,58m2; Cây hương thờ diện tích 1,6m2; Sân lát gạch diện tích 129,3m2; ngõ bê tông diện tích 50,6m2; bê tông láng trên mặt bờ ao; ốp gạch đá hoa chống nóng diện tích 66,1m2; lán chăn nuôi mái bro xây diện tích 32,1m2; (cửa, giá treo) của lán xe diện tích 7,52m2; mái tôn nhà bếp diện tích 18,3 m2; Mái tôn kèo thép diện tích 90,1m2; lát nền gạch diện tích 66,1m2; ốp tường gạch diện tích 198,3m2; trần nhựa diện tích 66,1m2; cửa thông phòng diện tích 1,54m2; 03 cửa sổ nhôm kính diện tích 3,75m2; hệ thống đường điện dài 44,2m; 05 cây chanh; 03 cây mít; 02 cây xoài; 01 cây khế; 01 cây cóc; 01 cây bơ; 01 cây hoa ngọc nữ; 01 cây hoa giấy; 01 cây bưởi; 01 cây hồng xiêm; 03 cây cau.

    Tổng giá trị đất, tài sản trên đất giao cho ông T là 646.721.450 (sáu trăm bốn mươi sáu triệu bẩy trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi) đồng.

  2. Chia, giao cho bà Trần Thị N: được quyền sử dụng thửa đất số 343 đều tờ bản đồ số 5, đo đạc năm 1990 có diện tích theo đo đạc hiện trạng 772,5m2 trong đó 400m2 đất ở, 372,5m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đất có tứ cận: Phía Đông giáp đất Nông nghiệp; Phía Tây giáp đất Lê Văn M; Phía Nam giáp đất Trần Văn X và Trần Kim T5; Phía Bắc giáp đất thuỷ lợi.

    Bà Trần Thị N được sở hữu các tài sản trên đất gồm: nhà mái bằng diện tích 32,9m2; nhà tạm mái bro diện tích 32,1m2; lán tạm diện tích 12,8m2; lán tạm chăn nuôi diện tích 28,5m2; sân láng vữa diện tích 127,1m2; bể nước thể tích 2m3; 40 khóm chuối; 02 cây bưởi; 02 cây na; 11 gốc đào; 09 cây mít; 03 cây ổi.

    Tổng giá trị đất, tài sản trên đất bà N là 426.623.444 (bốn trăm hai mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi ba bốn trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng. Trong đó 418.013.444₫ là tài sản bà N được chia và 8.610.000₫ là tài sản riêng của bà N.

  3. Về tài sản của anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Thị L: Buộc ông Nguyễn Văn T phải thanh toán trị giá tài sản cho anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Thị L là: 173.309.297 (một trăm bảy mươi ba triệu ba trăm linh chín nghìn hai trăm chín mươi bảy) đồng.
  4. Về thanh toán chênh lệch tài sản: Buộc ông Nguyễn Văn T thanh toán cho bà Trần Thị N là: 116.841.914 (một trăm mười sáu triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm mười bốn) đồng.

Giao cho anh Nguyễn Văn T1, chị Bùi Thị L được sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS BKS 17K8 - 8567 mang tên Nguyễn Ngọc T6. Anh T7, chị L có trách nhiệm tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để sang tên chủ sở hữu xe này.

Các đương sự có trách nhiệm tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị N không phải chịu án phí chia tài sản. Trả lại ông Nguyễn Văn T 10.000.000 (mười triệu) đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002339 tại Chi cục Thi hành án dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 22/3/2023.

II. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn T1 và chị Bùi Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ với số tiền 300.000 đồng anh T1, chị L5 đã nộp tạm ứng tại biên lai số 0002926 ngày 28/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, anh T1, chị L đã chấp hành xong nghĩa vụ án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 23/6/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án, Chi cục Thi hành án dân sự
  • huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Duy Luân

Sơ đồ thửa đất giao cho ông Nguyễn Văn T kèm theo Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT ngày 23 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình

Địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án phúc thẩm T - NH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger