|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/DS-ST
Ngày: 28 – 02 – 2025
V/v tranh chấp về dân sự nợ hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Quang Vinh.
- Ông Lê Văn Dài.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Phụng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Duyên là Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về dân sự nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Út L, sinh năm 1965.
- Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, Đồng Tháp.
- Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị Út L: Bà Lê Thị T, sinh năm 1965, địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là người đại diện theo uỷ quyền (Hợp đồng uỷ quyền ngày 08/3/2024).
- - Bị đơn: Bà Phạm Thị Ầ, sinh năm 1967.
- Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, Đồng Tháp.
- Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Lê Thị T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; bà Phạm Thị Ầ vắng mặt lần hai không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Lê Thị Út L trình bày:
Trước đây, bà Phạm Thị Ầ là hụi viên có tham gia 01 phần hụi, do bà Lê Thị Út L làm chủ hụi nhưng đến nay đã quá lâu nên bà L không nhớ thời điểm nào. Dây hụi 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi có 22 người tham gia.
Bà Phạm Thị Ầ là người hốt hụi lần đầu với số tiền bao nhiêu thì bà L không nhớ, qua đó hàng tháng bà Ầ phải đóng lại hụi chết với số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho bà L đến khi mãn hụi. Bà Phạm Thị Ầ đã đóng hụi chết cho bà L được 04 lần, còn lại 17 lần chưa đóng x 5.000.000 đồng/lần = 85.000.000 đồng (Tám mươi lăm triệu đồng). Sau đó, bà Ầ có trả cho bà L được 03 lần với tổng số tiền 12.500.000 đồng (Mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng), còn nợ lại số tiền hụi là 72.500.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Bà L nhiều lần đến gặp bà Ầ để yêu cầu trả tiền hụi, nhưng bà Ầ chỉ hứa hẹn chứ không thực hiện. Sau khi giữa bà L và bà Ầ đã thống nhất được số tiền nợ hụi thì ngày 30/4/2019 (âm lịch), bà L có viết biên nhận nợ hụi để cho bà Ầ ký tên, biên nhận có chữ ký tên “Ầm” của bà Phạm Thị Ầ.
Tại biên nhận ngày 30/4/2019 (âm lịch) bà Phạm Thị Ầ cũng thừa nhận nợ bà Lê Thị Út L số tiền nợ hụi là 72.500.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
Nay, bà Lê Thị Út L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị Ầ phải trả số tiền nợ hụi là 72.500.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Đồng thời không yêu cầu tính lãi.
Bà Lê Thị Út L cam kết chữ ký “Ầm” trong biên nhận ngày 30/4/2019 là của bà Phạm Thị Ầ ký tên. Trường hợp sau này bà Phạm Thị Ầ có khiếu nại gì về biên nhận trên bản thân bà Lê Thị Út L hoàn toàn chịu trách nhiệm, không liên quan gì đến Toà án
- Bị đơn bà Phạm Thị Ầ không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Út L. Buộc bà Phạm Thị Ầ phải trả cho bà Lê Thị Út L số tiền nợ hụi là 72.500.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- Đơn khởi kiện (Bản chính); Căn cước công dân của bà Lê Thị Út L (Bản sao); Biên nhận ngày 30/4/2024 âm lịch (Bản photo đối chiếu); Căn cước công dân của bà Lê Thị T (Bản sao); Hợp đồng uỷ quyền (Bản chính); Bản khai (Bản chính); Đơn xin vắng mặt (Bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Út L và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về dân sự nợ hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Phạm Thị Ầ cư trú tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Phạm Thị Ầ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị T, bà Phạm Thị Ầ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của bà Lê Thị Út L về việc yêu cầu bà Phạm Thị Ầ trả cho bà L số tiền nợ hụi là 72.500.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
Xét thấy, sau khi thống nhất về hình thức hụi, điều kiện làm thành viên, điều kiện làm chủ hụi thì giữa bà Lê Thị Út L và bà Phạm Thị Ầ đã xác lập giao dịch dân sự về hụi. Tại thời điểm xác lập giao dịch về hụi, bà L và bà Ầ có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó, khi xác lập giao dịch về hụi thì bà L và bà Ầ đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Việc giao kết giao dịch về hụi được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội nên giao dịch về hụi giữa bà L và bà Ầ có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 117 và Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Sau khi đã hốt (lãnh) hụi thì bà Ầ chỉ thực hiện việc đóng hụi được vài lần, những lần sau thì chị không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đóng hụi. Bà L xác định, bà L đã nhiều lần yêu cầu bà Ầ trả khoản tiền nợ hụi nhưng bà Ầ không trả. Như vậy, có cơ sở xác định bà Phạm Thị Ầ đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ hụi cho bà Lê Thị Út L theo thỏa thuận được quy định tại khoản 1 Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng cho bà Phạm Thị Ầ nhưng bà Ầ không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án. Do đó, bà Ầ phải tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình và phải chịu trách nhiệm đối với khoản tiền nợ hụi yêu cầu của bà Lê Thị Út L.
Từ những phân tích trên, bà Lê Thị Út L yêu cầu bà Phạm Thị Ầ trả cho bà L số tiền nợ hụi là 72.500.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng) là có căn cứ chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình về quan điểm giải quyết vụ án là đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Út L là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Út L nên bà Phạm Thị Ầ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 117, khoản 1 Điều 351, Điều 357 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Út L.
Buộc bà Phạm Thị Ầ phải trả cho bà Lê Thị Út L số tiền nợ hụi là 72.500.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí:
Bà Phạm Thị Ầ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.625.000 đồng (Ba triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Hoàn trả cho bà Lê Thị Út L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.812.500 đồng (Một triệu, tám trăm mười hai nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006875 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Trung |
Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự nợ hụi
- Số bản án: 10/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự nợ hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Út L. Buộc bà Phạm Thị Ẩ phải trả cho bà Lê Thị Út L số tiền nợ hụi là 72.500.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Về án phí: Bà Phạm Thị Ẩ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.625.000 đồng (Ba triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Hoàn trả cho bà Lê Thị Út L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.812.500 đồng (Một triệu, tám trăm mười hai nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006875 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
