|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/DS-ST
Ngày 24 tháng 3 năm 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Khưu Liên Dung
Bà Dư Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01A/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B1. Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A Tòa nhà T, số B đường T, Phường T, quận H, Thành Phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Hồ Nam T– chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tấn D – chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần B1, chi nhánh B2. Ông Nguyễn Tấn D ủy quyền lại cho: Ông Lâm Thanh T1, sinh năm 1984; chức vụ: chuyên viên, Ngân hàng TMCP B1- Chi nhánh B2 (Văn bản ủy quyền số 1018/2024/TB – BL ngày 08/7/2024)
- Bị đơn: Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1964, Địa chỉ: số D, đường Đ, Khóm F, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Kim C1, sinh năm 1953
- Ông Trần Đình C2, sinh năm 1956
- Anh Trần Thanh T2, sinh năm 1981
- Bà Trần Thị Tú T3, sinh năm 1976
- Ông Trần Văn T4, sinh năm 1961
- Chị Trần Thanh T5, sinh năm 1988
- Chị Trần Thanh T6, sinh năm 2003
- Anh Phạm Hoàng V, sinh năm 1992
- Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1974
- Bà Trần Thị Kim M, sinh năm 1961
- Chị Phạm Mỹ L, sinh năm 1990
- Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1954
Cùng địa chỉ: số D, Đoàn Thị Đ, Khóm F, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Giữa Ngân hàng TMCP B1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với bà Trần Thị Kim C phát sinh giao dịch tín dụng gồm: Ngày 03/6/2021, bà Trần Thị Kim C có vay tiền tại Ngân hàng thông qua Hợp đồng tín dụng số HDTD9202021286, nội dung như sau: số tiền vay 2.000.000.000đồng; mục đích vay hoàn tiền vốn mua bất động sản tại thửa 134, tờ G, thuộc Phường A, tp B; lãi suất 7,5%/năm cố định 12 tháng đầu tiên, kể từ sau ngày 03/6/2022 lãi suất thả nổi và được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, biên độ cộng thêm tối thiểu 3,7%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; nợ lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 148 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng 03/10/2033. Hình thức thanh toán, trả lãi và gốc hàng tháng. Ngân hàng đã giải ngân cho bà C ngày 03/6/2021.
Ngày 14/02/2023, bà Trần Thị Kim C vay tiền tại Ngân hàng thông qua Hợp đồng tín dụng số HDTD920202373, nội dung như sau: số tiền vay 80.000.000đồng; mục đích vay tiêu dùng-mua sắm đồ gia dụng; lãi suất 11,95%/năm cố định 03 tháng đầu tiên, kể từ tháng thứ 4 lãi suất thả nổi và được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; nợ lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 60 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng 14/02/2028. Hình thức thanh toán, trả lãi và gốc hàng tháng. Ngân hàng đã giải ngân cho bà C ngày 14/02/2023.
Để đảm bảo khoản vay giữa bà Trần Thị Kim C và Ngân hàng đã ký các hợp đồng thế chấp gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC9202021105 ngày 03/6/2021 nội dung thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 120m2, tại thửa đất 0195, tờ bản đồ 06, tại Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M631994 ngày 12/02/1994, cập nhật quyền sử dụng cho bà Trần Thị Kim C và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC9202021104 ngày 03/6/2021 nội dung thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 183,5m2, tại thửa đất 195, tờ bản đồ 06, tại Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản là căn nhà trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 9110021513 ngày 03/02/1999, cập nhật quyền sử dụng cho bà Trần Thị Kim C .
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà C chưa thanh toán hết nợ gốc lãi cho Ngân hàng. Kể từ ngày 26/4/2024 bà C vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ vay sang nợ quá hạn. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Kim C thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng tính đến ngày 24/3/2025 số tiền là 1.984.930.870 đồng. Trong đó, đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD9202021286 ngày 03/6/2021 là 1.885.638.490 đồng ( gồm nợ gốc 1.594.529.966 đồng, nợ lãi trong hạn: 252.519.298 đồng, lãi quá hạn 38.589.226 đồng); Đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD920202373 ngày 14/02/2023 là 99.292.380 đồng ( gồm nợ gốc 66.660.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 24.420.409 đồng, lãi quá hạn 8.211.971 đồng). Ngân hàng cũng yêu cầu bà Trần Thị Kim C trả tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ. Trường hợp bà C không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp tại các hợp đồng thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng.
* Bị đơn bà Trần Thị Kim C được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng các văn bản tố tụng trong vụ án nhưng đã không đến Tòa án theo triệu tập, không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng từ khi đưa tham gia tố tụng đến khi đưa vụ án ra xét xử án nhưng đã không đến Tòa án theo triệu tập, không ghi nhận được ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng, đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng theo quy định; đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã vắng mặt không lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B1 đối với bà Trần Thị Kim C. Buộc bà Trần Thị Kim C có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ theo các hợp đồng tín dụng tính đến ngày 24/3/2025 là 1.984.930.870 đồng (trong đó nợ gốc của khoản tiền vay: 1.661.189.966 đồng, nợ lãi trong hạn 276.939.707 đồng, lãi quá hạn 46.801.197 đồng) và tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ.
Trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ trên thì cho nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã được các bên ký kết; Về chi phí tố tụng và án phí: Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đương sự; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng thương mại cổ phần B1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị Kim C trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn bà Trần Thị Kim C có địa chỉ cư trú tại thành phố B. Nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tư cách tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, đương sự xác định tài sản thế chấp do hộ bà Trần Thị Kim C1 (trước là bà Mã Thị L1) quản lý sử dụng. Căn cứ kết quả xác minh chính quyền địa phương xác định, cháu Trần Cao Gia B, sinh năm 2015 là con của anh Trần Thanh T2, sinh năm 1981; Cháu Phạm Quốc K, sinh năm 2024 là con của chị Phạm Mỹ L, sinh năm 1990; cháu Triệu Khánh V1, sinh năm 2016 và cháu Triệu Khả V2, sinh năm 2019 là con của chị Trần Thanh T5, sinh năm 1988; cháu Phạm Võ Như Q, sinh năm 2023 và cháu Phạm Võ Khánh N, sinh năm 2020 là con của anh Phạm Hoàng V, sinh năm 1992. Xét thấy, các cháu chưa thành niên, đã có người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng, đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp khi giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 21, Điều 136 Bộ luật Dân sự và Điều 68, Điều 69 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử không đưa những người chưa thành niên nêu trên tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[3] Xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Trần Thị Kim C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B1.
[4.1] Xét Hợp đồng tín dụng số HDTD9202021286 ngày 03/6/2021, nội dung: số tiền vay 2.000.000.000đồng; mục đích vay hoàn tiền vốn mua bất động sản tại thửa 134, tờ G, thuộc Phường A, tp B; lãi suất 7,5%/năm, cố định 12 tháng đầu tiên, kể từ sau ngày 03/6/2022 lãi suất thả nổi và được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, biên độ cộng thêm tối thiểu 3,7%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; nợ lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 148 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là 03/10/2033. Hình thức thanh toán, trả lãi và gốc hàng tháng. Việc giải ngân tiền vay thể hiện Ngân hàng đã giải ngân cho bà C vào ngày 03/6/2021 đủ số tiền vay.
Đối với hợp đồng tín dụng số HDTD920202373 ký ngày 14/02/2023, nội dung bà C vay số tiền 80.000.000đồng; mục đích vay tiêu dùng-mua sắm đồ gia dụng; lãi suất 11,95%/năm, cố định 03 tháng đầu tiên, kể từ tháng thứ 4 lãi suất thả nổi và được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; nợ lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 60 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là 14/02/2028. Hình thức thanh toán, trả lãi và gốc hàng tháng. Ngân hàng đã giải ngân cho bà C ngày 14/02/2023.
Hội đồng xét xử xét thấy, 02 hợp đồng tín dụng nêu trên được các bên ký kết vào năm 2021 và năm 2023 có hình thức, nội dung thỏa thuận phù hợp theo quy định pháp luật. Các bên thoả thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được nêu trong hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng tại thời điểm ký kết. Nay bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Kim C trả nợ vay trước hạn là đúng theo thỏa thuận các bên tại điểm 7.1 Điều 7 của hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần B1 yêu cầu bà Trần Thị Kim C trả nợ vay theo 02 hợp đồng tín dụng đã ký kết với tổng số nợ tính đến ngày 24/3/2025 số tiền là 1.984.930.870 đồng. Trong đó, đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD9202021286 ngày 03/6/2021 là 1.885.638.490 đồng ( gồm nợ gốc 1.594.529.966 đồng, nợ lãi trong hạn: 252.519.298 đồng, lãi quá hạn 38.589.226 đồng); Đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD920202373 ngày 14/02/2023 là 99.292.380 đồng ( gồm nợ gốc 66.660.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 24.420.409 đồng, lãi quá hạn 8.211.971 đồng) là có căn cứ chấp nhận. Đồng thời bà Trần Thị Kim C cũng phải chịu trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh theo 02 Hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 25/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ.
[4.2] Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Ngân hàng: Để đảm bảo các khoản vay, bà Trần Thị Kim C và Ngân hàng đã ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số HĐTC9202021105 ngày 03/6/2021 nội dung thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 120m2, tại thửa đất 0195, tờ bản đồ 06, tại Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M631994 ngày 12/02/1994, cập nhật quyền sử dụng cho bà Trần Thị Kim C và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC9202021104 ngày 03/6/2021 nội dung thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 183,5m2, tại thửa đất 195, tờ bản đồ 06, tại Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản là căn nhà trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 9110021513 ngày 03/02/1999, cập nhật quyền sử dụng cho bà Trần Thị Kim C.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp, các quyền sử dụng đất đã được cấp cho bà Trần Thị Kim C đúng theo quy định (bà C nhận thừa kế và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cập nhật ngày 05/8/2009). Đối với quyền sử dụng đất diện tích 183,5m2, tại thửa đất 195, tờ bản đồ 06, là phần đất còn lại sau khi chuyển nhượng diện tích 116,5m2 cho ông Trần Đình N1 (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 9110021527 ngày 25/12/2001) đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cập nhật ngày 05/8/2009 cho bà C tại trang 4, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 9110021513 ngày 03/02/1999. Do đó, bà C ký kết 02 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên là đúng quy định pháp luật. Mặc khác, các hợp đồng thế chấp tài sản đã được công chứng, chứng thực, tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đăng ký thế chấp đúng quy định, nên hợp đồng thế chấp đã ký có hiệu lực pháp luật, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện. Nay bà Trần Thi Kim C3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng TMCP B1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/8/2024 thể hiện hiện trạng các tài sản thế chấp như sau: Phần đất diện tích 183,5m2, tại thửa đất 195, tờ bản đồ 06 có tài sản gồm: 01 nhà ở có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có sơn tường) mái lợp ngói (đòn tay gỗ dầu), nền gạch bông (ngang 4,7m X dài 10,72m); gác lửng kết cấu sàn lót ván gỗ dầu (ngang 4,75m X 3,52m); nhà sau có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có sơn tường) mái lợp tole xi măng (Đòn tay gỗ dầu) nền gạch men; nhà vệ sinh ngoài có kết cấu xây tường gạch (có dán gạch ốp tường bên trong), nền lót gạch, mái lợp tole xi măng, có hầm tự hoại, diện tích ngang 1,4m X 2,4m; Hàng rào xây tường gạch D100 (có tô và sơn) cao 1,1m phía trên rào lưới B40, chiều dài 15,32m; Mái che phía trước có kết cấu khung cột sắt tiền chế, mái lợp tole thiếc, nền xi măng (ngang 7,5m X dài 4,5m); Công trình nhà mở rộng thêm phía bên có kết cấu đòn tay sắt, mái lợp tole thiếc, nền gạch; 02 vách sử dụng nhờ bên cạnh và nhà chính; mái che phía sau kết cấu cột bê tông đúc sẵn, mái lợp tole xi măng (đòn tay gỗ dầu) nền xi măng (4,2m X 4m); Hồ nước xây nổi có kết cấu xây gạch bao quanh (có dán gạch toàn bộ hồ nước); T7 rào phía ngoài nhà vệ sinh (dài 4,25m X cao 1,6m) xây tường gạch D100 (có tô và sơn tường); Phòng trọ (01 phòng) kết cấu khung cột sắt tiền chế; vách tường xây gạch; nền gạch men; mái lợp tole thiếc. Phần đất diện tích 120m2, tại thửa đất 0195, tờ bản đồ 06 có tài sản trên đất gồm: 02 nhà trọ có kết cấu khung cột sắt tiền chế, vách tường xây gạch, nền gạch men, mái lợp tole thiếc; 01 nhà ở cột bê tông cốt thép; mái lợp tole xi măng, mặt tiền trước và sau xây gạch (có sơn tường). Qua ghi nhận tại biên bản thẩm định việc quản lý tài sản tại thửa đất 195, tờ bản đồ 06 do hộ gia đình bà Mã Thị L1 (nay là Trần Thị Kim C1); bà Trần Thị Kim M quản lý sử dụng tài sản tại thửa đất 0195, tờ bản đồ 06. Do chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng nên cần phải buộc người đang quản lý giao tài sản khi thanh lý tài sản cho nguyên đơn.
[6] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang quản lý không có ý kiến về tài sản thế chấp. Mặt khác, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không ý kiến hay yêu cầu về quyền tài sản của bà C3, quyền sở hữu đối với tài sản trên đất, những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc nên không ghi nhận được ý kiến. Vì vậy, không xem xét về quyền tài sản trong vụ án này. Trường hợp các đương sự có yêu cầu xem xét về quyền sở hữu tài sản thì có quyền yêu cầu bằng một vụ án độc lập khác.
[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bà Trần Thị Kim C phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp. Ngân hàng TMCP B1 đã tạm ứng chi xem xét thẩm định tại chỗ xong số tiền 900.000 đồng. Bà Trần Thị Kim C phải có trách nhiệm nộp 900.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng TMCP B1 được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà Trần Thị Kim C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 71.547.926 đồng, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 5; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 207; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 292, 295, 298, 299, 317; khoản 1 Điều 318, các Điều 319, 463 Bộ luật Dân sự.
- Điều 100, 103, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B1 đối với bà Trần Thị Kim C .
- Buộc bà Trần Thị Kim C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B1 tổng số tiền nợ vay tính đến ngày 24/3/2025 là 1.984.930.870 đồng (Một tỷ, chín trăm tám mươi bốn triệu chín trăm ba mươi ngàn tám trăm bảy mươi đồng). Trong đó, gồm nợ gốc 1.661.189.966 đồng, nợ lãi trong hạn: 276.939.707 đồng, lãi quá hạn 46.801.197 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/3/2025), bà Trần Thị Kim C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng TMCP B1.
- Trường hợp bà Trần Thị Kim C không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP B1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay theo quy định của pháp luật gồm:
- Quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M631994 do UBND tỉnh B cấp ngày 12/02/1994 cho ông Trần Đ1, cập nhật chuyển quyền sử dụng cho bà Trần Thị Kim C ngày 05/8/2009, diện tích 120m2 thuộc thửa 0195, tờ bản đồ 06; Đất lập vườn và các tài sản trên đất, tọa lạc tại khóm F, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 9110021513 do UBND tỉnh B cấp ngày 03/02/1999 cho ông Trần Đ1, bà Mã Thị L1, cập nhật chuyển quyền sử dụng cho bà Trần Thị Kim C ngày 05/8/2009, diện tích 183,5m2 (đã đối trừ phần đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 9110021527 ngày 25/12/2001 cho ông Trần Đình N1), đất ở thuộc thửa 195, tờ bản đồ 06; Đất ở, tọa lạc tại khóm F, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và các tài sản trên đất.
- Buộc những người đang quản lý tài sản thế chấp gồm bà Trần Thị Kim M (quản lý tài sản trên phần đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M631994 cấp ngày 12/02/1994 diện tích 120m2 thuộc thửa 195, tờ bản đồ 06) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Trần Thị Kim C1, ông Trần Đình C2, anh Trần Thanh T2, bà Trần Thị Tú T3, ông Trần Văn T4, chị Trần Thanh T5, chị Trần Thanh T6, anh Phạm Hoàng V, bà Trần Thị Kim H, bà Trần Thị Kim M, chị Phạm Mỹ L, bà Nguyễn Thị Á (quản lý tài sản trên phần đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 9110021513 cấp ngày 03/02/1999 diện tích 183,5m2 thuộc thửa 0195, tờ bản đồ 06) phải có nghĩa vụ giao lại tài sản khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý phát mãi để thu hồi nợ cho nguyên đơn
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 900.000 đồng. Bà Trần Thị Kim C phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 đã dự nộp tại Tòa án và chỉ số tiền 900.000 đồng nên bà Trần Thị Kim C phải nộp hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1 số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Bà Trần Thị Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 71.547.926 đồng đồng (Bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi bảy ngàn chín trăm hai mươi sáu đồng) và nộp tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Ngân hàng thương mại cổ phần B1 không phải chịu án phí, Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 33.775.000 đồng (Ba mươi ba triệu, bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002945 ngày 19/7/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.
- Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Nơi nhận:
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Chi |
Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 10/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt đối với bà Trần Thị Kim Châu
