|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 10/2025/DS-ST Ngày: 10-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Út
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Ngọc Hồng
- Ông Lê Anh Giàu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 303/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S;
- Bị đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm: 1991 và ông Nguyễn Minh D, sinh năm: 1985;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Huy C, sinh năm: 1980;
Trụ sở: Số G, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người được ủy quyền ký đơn khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Q – Chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1 (Theo Văn bản ủy quyền số 406.1 ngày 19/7/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S);
Người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng của nguyên đơn: ông Đặng Quốc T – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Theo Văn bản ủy quyền số 37 ngày 10/02/2025 của Phó Giám đốc phụ trách Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1);
Địa chỉ liên hệ: Số B, N, Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)
Cùng nơi cư trú: Số A, khu phố B, Phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Cùng vắng mặt)
Nơi cư trú: Số D, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đặng Quốc T trình bày:
Ngày 02/11/2021, bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D và Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1 đã ký kết hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 025/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402; Hạn mức cho vay: 15.000.000.000 đồng; Số tiền giải ngân: 10.500.000.000 đồng; Mục đích vay: Bù đắp tiền mua bất động sản để bán (Thửa 446, 447, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre); Lãi suất cho vay: là 12%/năm áp dụng trong 03 tháng, kể từ ngày 03/11/2021 đến hết ngày 02/02/2022, lãi suất cho vay được điều chỉnh lần đầu tiên là ngày 03/02/2022 các lần tiếp theo được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm điều chỉnh gần nhất, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tại ngày 03/02/2022 và các lần tiếp theo bằng lãi suất cơ sở VNĐ của S1 kỳ hạn vay 24 tháng có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) với biên độ cho vay 4%/năm (Áp dụng theo quyết định số 2679/2021/QĐ/BĐH-ALM ngày 20/10/2021); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn cho vay là 24 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; Phương thức trả nợ vay: khách hàng trả nợ gốc cuối kỳ và trả nợ lãi hàng tháng. Để bảo đảm cho khoản vay trên, bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D và Ngân hàng đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 025.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021, tài sản thế chấp là 02 quyền sử dụng đất sau:
- + Quyền sử dụng thửa đất số 446, tờ bản đồ số 5, diện tích 4.000,9 m², tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CX164601, số vào sổ cấp giấy: CS09548 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B điều chỉnh biến động cho bà Bùi Thị L ngày 01/11/2021.
- + Quyền sử dụng thửa đất số 447, tờ bản đồ số 5, diện tích 260,4 m², tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CX502608, số vào sổ cấp giấy: CS09946 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B điều chỉnh biến động cho bà Bùi Thị L ngày 01/11/2021.
Đến ngày 14/12/2021, bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D và Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1 đã ký kết hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 032/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402; Số tiền cho vay: 4.500.000.000 đồng; Số tiền giải ngân: 4.500.000.000 đồng; Mục đích vay Thanh toán tiền mua bất động sản để bán; Lãi suất cho vay: là 12%/năm áp dụng trong 03 tháng, kể từ ngày 14/12/2021 đến hết ngày 13/03/2022, lãi suất cho vay được điều chỉnh lần đầu tiên vào ngày 14/03/2022, các lần tiếp theo được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm điều chỉnh gần nhất, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tại ngày 14/03/2022 và các lần tiếp theo bằng lãi suất cơ sở VNĐ kỳ hạn 24 tháng có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) với biên độ cho vay 4%/năm. (Áp dụng theo quyết định số 2679/2021/QĐ/BĐH-ALM ngày 20/10/2021); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn cho vay là 24 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; Phương thức trả nợ vay: khách hàng trả nợ gốc cuối kỳ và trả nợ lãi hàng tháng. Để bảo đảm cho khoản vay trên, bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D và Ngân hàng đã ký kết các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số sau:
- - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 032.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021, tài sản thế chấp là 02 quyền sử dụng đất sau:
- + Quyền sử dụng thửa đất số 15, tờ bản đồ số 1, diện tích 4.512,4 m², tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM856505, số vào sổ cấp giấy: CS01246 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B điều chỉnh biến động cho bà Bùi Thị L ngày 13/12/2021.
- + Quyền sử dụng thửa đất số 207, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.174,9 m², tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV779576, số vào sổ cấp giấy: CS02106 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B điều chỉnh biến động cho bà Bùi Thị L ngày 13/12/2021.
- - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 032.2/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 45, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.248,6 m², tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV779577, số vào sổ cấp giấy: CS02107 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B điều chỉnh biến động cho bà Bùi Thị L ngày 13/12/2021.
Trong quá trình vay vốn, bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D đã không thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 03/8/2022 (đối với hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 025/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021) và kể từ ngày 15/11/2022 (đối với hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 032/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021), Ngân hàng đã nhiều lần làm việc nhưng bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, cụ thể dư nợ gốc, lãi tính đến hết ngày 10/02/2025 là: 22.290.728.562 đồng, bao gồm:
- + Nợ theo hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 025/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021: nợ gốc: 10.500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 3.985.957.875 đồng; nợ lãi quá hạn và chậm trả: 1.265.184.463 đồng.
- + Nợ theo hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 032/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021: nợ gốc: 4.500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.556.623.854 đồng; nợ lãi quá hạn và chậm trả: 482.962.190 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D phải liên đới trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ đã vay tính đến hết ngày 10/02/2025 là: 22.290.728.562 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 11/02/2025 đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 446 và 447, cùng tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; thửa đất số 15, tờ bản đồ số 1, các thửa đất số 45 và 207, cùng tờ bản đồ số 3, các thửa đất cùng tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D và ông Trần Huy C đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng các đương sự vắng mặt và không có trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu ý kiến giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn tuân thủ đúng quy định pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tuân thủ đúng quy định pháp luật về việc tham gia tố tụng.
- Về nội dung đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S nợ vay tính đến hết ngày 10/02/2025 là 22.290.728.562 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 11/02/2025 đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 446 và 447, cùng tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; thửa đất số 15, tờ bản đồ số 1, các thửa đất số 45 và 207, cùng tờ bản đồ số 3, các thửa đất cùng tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, căn cứ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D trả số tiền đã vay theo các hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn hiện đang cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D là bị đơn và ông Trần Huy C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về xét nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1] Bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D và Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1 đã ký kết các hợp đồng tín dụng sau:
- - Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 025/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021, theo đó: Ngân hàng cấp hạn mức cho vay: 15.000.000.000 đồng; Số tiền giải ngân: 10.500.000.000 đồng; Mục đích vay: bù đắp tiền mua bất động sản để bán (Thửa 446, 447, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre); Lãi suất cho vay: là 12%/năm áp dụng trong 03 tháng, kể từ ngày 03/11/2021 đến hết ngày 02/02/2022, lãi suất cho vay được điều chỉnh lần đầu tiên là ngày 03/02/2022 các lần tiếp theo được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm điều chỉnh gần nhất, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tại ngày 03/02/2022 và các lần tiếp theo bằng lãi suất cơ sở VNĐ của S1 kỳ hạn vay 24 tháng có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) với biên độ cho vay 4%/năm (Áp dụng theo quyết định số 2679/2021/QĐ/BĐH-ALM ngày 20/10/2021); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn cho vay là 24 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; Phương thức trả nợ vay: khách hàng trả nợ gốc cuối kỳ và trả nợ lãi hàng tháng.
- - Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 032/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021, theo đó Ngân hàng cho bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D vay số tiền 4.500.000.000 đồng và đã giải ngân: 4.500.000.000 đồng; Mục đích vay: thanh toán tiền mua bất động sản để bán; Lãi suất cho vay: là 12%/năm áp dụng trong 03 tháng, kể từ ngày 14/12/2021 đến hết ngày 13/03/2022, lãi suất cho vay được điều chỉnh lần đầu tiên vào ngày 14/03/2022, các lần tiếp theo được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm điều chỉnh gần nhất, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tại ngày 14/03/2022 và các lần tiếp theo bằng lãi suất cơ sở VNĐ kỳ hạn 24 tháng có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) với biên độ cho vay 4%/năm. (Áp dụng theo quyết định số 2679/2021/QĐ/BĐH-ALM ngày 20/10/2021); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn cho vay là 24 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; Phương thức trả nợ vay: khách hàng trả nợ gốc cuối kỳ và trả nợ lãi hàng tháng.
Đồng thời để đảm bảo cho các khoản vay trên, bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D và Ngân hàng đã ký kết các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, cụ thể là hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 025.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 032.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 032.2/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021.
Xét thấy, các hợp đồng tín dụng, các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa các bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật, đồng thời các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được Văn phòng công chứng công chứng theo đúng quy định nên các hợp đồng này có hiệu lực pháp luật ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên.
[3.2] Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D đã thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ lãi cho Ngân hàng kể từ ngày 03/8/2022 (đối với hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 025/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021) và kể từ ngày 15/11/2022 (đối với hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 032/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021), đã vi phạm điều khoản theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, mặt khác bà L và ông D không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu trả tiền nợ vay của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D liên đới thanh toán số tiền nợ vay tính đến hết ngày 10/02/2025 là: 22.290.728.562 đồng (bao gồm: Nợ theo hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 025/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021: nợ gốc: 10.500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 3.985.957.875 đồng; nợ lãi quá hạn và chậm trả: 1.265.184.463 đồng; Nợ theo hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 032/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021: nợ gốc: 4.500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.556.623.854 đồng; nợ lãi quá hạn và chậm trả: 482.962.190 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 11/02/2025 đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3] Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 025.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 032.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 032.2/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1 và bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D đã ký kết để đảm bảo cho khoản vay của bà L và ông D. Các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với nội dung trường hợp bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng được xử lý tài sản thế chấp. Xét thấy, bà L và ông D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết, đồng thời bà L và ông D không có ý kiến phản bác gì đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nên Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất các thửa đất số 446 và 447, cùng tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; thửa đất số 15, tờ bản đồ số 1, các thửa đất số 45 và 207, cùng tờ bản đồ số 3, các thửa đất cùng tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S được chấp nhận nên bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 112.000.000 đồng + (0,1% x 18.290.728.562 đồng) = 130.290.700 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 295, 299, 301, 303, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, cụ thể:
- Buộc bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S toàn bộ số nợ tính đến hết ngày 10/02/2025 là: 22.290.728.562 (Hai mươi hai tỷ, hai trăm chín mươi triệu, bảy trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm sáu mươi hai) đồng, bao gồm:
- + Nợ theo hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 025/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021: nợ gốc: 10.500.000.000 (Mười tỷ, năm trăm triệu) đồng; nợ lãi trong hạn: 3.985.957.875 (Ba tỷ, chín trăm tám mươi lăm triệu, chín trăm năm mươi bảy nghìn, tám trăm bảy mươi lăm) đồng; nợ lãi quá hạn và chậm trả: 1.265.184.463 (Một tỷ, hai trăm sáu mươi lăm triệu, một trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm sáu mươi ba) đồng.
- + Nợ theo hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 032/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021: nợ gốc: 4.500.000.000 (Bốn tỷ, năm trăm triệu) đồng; nợ lãi trong hạn: 1.556.623.854 (Một tỷ, năm trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi bốn) đồng; nợ lãi quá hạn và chậm trả: 482.962.190 (Bốn trăm tám mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn, một trăm chín mươi) đồng.
Bà Bùi Thị L và ông Nguyễn Minh D còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 025/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 02/11/2021 và Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 032/2021/HĐTDTDH-CN/SHB.131402 ngày 14/12/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1 và bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D kể từ ngày 11/02/2025 cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Trường hợp bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất sau:
- - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 025.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 được ký kết ngày 02/11/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh T1 và bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D, tài sản thế chấp cụ thể là:
- + Quyền sử dụng thửa đất số 446, tờ bản đồ số 5, diện tích 4.000,9 m², tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- + Quyền sử dụng thửa đất số 447, tờ bản đồ số 5, diện tích 260,4 m², tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 032.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 được ký kết ngày 14/12/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1 và bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D, tài sản thế chấp cụ thể là:
- + Quyền sử dụng thửa đất số 15, tờ bản đồ số 1, diện tích 4.512,4 m², tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- + Quyền sử dụng thửa đất số 207, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.174,9 m², tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 032.2/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 được ký kết ngày 14/12/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh T1 và bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D, tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 45, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.248,6 m², tọa lạc tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- - Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 025.1/2021/HĐTC-CN/SHB.131402 được ký kết ngày 02/11/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh T1 và bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D, tài sản thế chấp cụ thể là:
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D phải nộp là 130.290.700 (Một trăm ba mươi triệu, hai trăm chín mươi nghìn, bảy trăm) đồng.
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 64.340.000 (Sáu mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005253 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Minh D và ông Trần Huy C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hoàng Út |
Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 10/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
