Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THUỶ

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 10/2025/DS-ST

Ngày: 18- 6 - 2025

Về việc: “Tranh chấp quyền sử

dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY- THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Văn Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trọng Thơi và ông Trần Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Thọ - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Khánh Nhạc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thuỷ, số F đường Đ, phường P, thị xã H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 64/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2022, về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các bên đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1956. Địa chỉ: Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt, đã ủy quyền.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Ông Phan N, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn B, phường T, quận T, thành phố H; Theo Giấy ủy quyền ngày 18/12/2024. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phan Đ, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Cửu Thị T, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Phan N, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn B, phường T, quận T, thành phố H (con bà Hoàng Thị Y). Có mặt.
  • + Ông Phan N1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H (con bà Hoàng Thị Y). Vắng mặt, đã ủy quyền.
  • + Bà Phan Thị H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn B, phường T, quận T, thành phố H (con bà Hoàng Thị Y). Vắng mặt, đã ủy quyền.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là: Ông Phan N, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn B, phường T, quận T, thành phố H; Theo Giấy ủy quyền ngày 18/12/2024. Có mặt.

  • + Anh Phan T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H (con ông Đoàn bà T2). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/9/2022, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan N, trình bày: Về nguồn gốc sử dụng thửa đất mang số hiệu thửa 64, tờ bản đồ 16, có diện tích là 2.030,9m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H là thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông bà Phan L, Hoàng Thị Y (ông L chết ngày 02/3/2018), đã được Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang số hiệu BQ 942243 vào ngày 17/11/2014 cho ông bà mang tên Phan L, Hoàng Thị Y. Liền kề với thửa đất này thì có thửa đất số 48, tờ bản đồ 16, diện tích 1.157,3m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H là thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T, đã được UBND thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang số hiệu BQ 946381 ngày 17/11/2014. Quá trình quản lý sử dụng đất nói trên thì các bên không cắm cột mốc cố định mà chỉ dựa vào các bụi tre làm hàng rào, để xác định ranh giới liền kề giữa hai thửa đất nên ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T và con là anh Phan T1 đã chiếm dụng phần đất liền kề của bà Y ông L, có diện tích là 68,2m². Khi gia đình bà Y phá dỡ các bụi tre để xây tường rào cố định thì ông Đ bà T tranh chấp cản trở nên bà Y đã làm đơn khiếu nại tại Ủy ban nhân dân xã D, Ủy ban nhân dân xã D đã tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng các bên đương sự cũng không thống nhất với nhau về phần đất liền kề đang tranh chấp. Nay nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y khởi kiện và yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là ông Phan Đ và bà Nguyễn Cửu Thị T phải chịu trách nhiệm trả lại phần đất liền kề đã chiếm dụng có diện tích là 68,2m², tại thửa đất số 64, tờ bản đồ 16, có diện tích là 2.030,9m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H cho nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y và những người thừa kế hợp pháp của ông Phan L, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được UBND thị xã H cấp cho ông bà Phan L, Hoàng Thị Y vào ngày 17/11/2014.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/6/2024, bị đơn là bà Nguyễn Cửu Thị T trình bày: Về nguồn gốc sử dụng đất mà ông bà đang quản lý sử dụng là thửa số 48, tờ bản đồ 16, có diện tích 1.157,3m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H, thuộc sở hữu, sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông bà và đã được Ủy ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BQ 946381 ngày 17/11/2014, liền kề với thửa đất của ông L, bà Y. Về thực tế thì lâu nay giữa hai thửa đất liền kề có hàng rào bằng các bụi tre, làm ranh giới để xác định quyền sử dụng đất giữa hai thửa đất liền kề. Quá trình sử dụng đất hai bên có xảy ra tranh chấp phần đất liền kề giữa hai thửa đất. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y thì bà đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật vì phần đất liền kề đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà, vợ chồng bà không lấn chiếm hoặc chiếm dụng phần đất liền kề của nguyên đơn. Đối với bị đơn là ông Phan Đ (là chồng của bà Nguyễn Cửu Thị T) thì Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt, không trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại các bản tự khai ngày 14/02/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là ông Phan N, ông Phan N1 và bà Phan Thị H cũng thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/10/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là ông Phan T1, trình bày: Về nguồn gốc sử dụng thửa đất của gia đình thì như lời khai của mẹ anh là bà Nguyễn Cửu Thị T đã trình bày tại Tòa án. Về nguồn gốc thì thửa đất số 48, tờ bản đồ 16, diện tích 1.157,3m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H là thuộc sở hữu, sử dụng hợp pháp của bố mẹ anh, hiện nay giao cho anh quản lý sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì anh cũng thống nhất với ý kiến trình bày trên của mẹ anh, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì gia đình anh không lấn chiếm hoặc chiếm dụng phần đất liền kề của nguyên đơn.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân xã D, thị xã H cho biết: Thửa đất số 64, tờ bản đồ 16, diện tích 2.030,9m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H, đã được UBND thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 942243 ngày 17/11/2014 cho ông Phan L và bà Hoàng Thị Y, liền kề với thửa đất số 48, tờ bản đồ 16 có diện tích 1.157,3m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H, đã được UBND thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang số hiệu BQ 946381, vào ngày 17/11/2014 cho ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T. Quá trình quản lý, sử dụng đất giữa hai hộ liền kề thì không có cắm mốc giới, không xây dựng hàng rào làm ranh giới giữa hai thửa đất nên đã xảy ra tranh chấp, bà Y cũng đã có đơn khiếu nại tại Ủy ban nhân xã D. Ủy ban nhân dân xã D cũng đã tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng các bên đương sự không thống nhất với nhau về phần đất liền kề đang tranh chấp nên Ủy ban nhân dân xã D đã hướng dẫn các bên đương sự thực hiện quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định của pháp luật. Nay Ủy ban nhân dân xã D đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, theo hiện trạng thì phần đất đang tranh chấp có diện tích 68,2m² nằm trong thửa đất số 64, tờ bản đồ 16 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp cho bà Y ông L, phù hợp với Bản trích đo địa chính ngày 12/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã H.

Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng phía bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn cố tình vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có mặt người đại diện theo ủy quyền. Về phía bị đơn là ông Phan Đ, bà Nguyễn Cửu Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là anh Phan T1, tuy đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn đều chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng, còn bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn cố tình vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y đối với bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T. Buộc bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Phan T1 phải chịu trách nhiệm trả lại phần đất liền kề đã chiếm dụng có diện tích là 68,2m², tại thửa đất số 64, tờ bản đồ 16, có diện tích là 2.030,9m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H cho nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y và những người thừa kế hợp pháp của ông Phan L. Về án phí dân sự sơ thẩm, buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

Về nguồn gốc sử dụng thửa đất mang số hiệu thửa 64, tờ bản đồ 16, diện tích 2.030,9m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H, là thuộc quyền sở hữu, sử dụng của nguyên đơn là ông bà Phan L, Hoàng Thị Y, đã được Ủy ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số hiệu BQ 942243 vào ngày 17/11/2014 mang tên ông bà Phan L, Hoàng Thị Y. Liền kề với thửa đất này thì có thửa đất số 48, tờ bản đồ 16, diện tích 1.157,3m², thuộc sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T, đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số hiệu BQ 946381, vào ngày 17/11/2014 mang tên ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T. Trong quá trình quản lý, sử dụng đất thì các chủ sử dụng đất liền kề không cắm mốc giới cố định, để xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai thửa đất mà chỉ sử dụng các bụi tre để làm hàng rào ngăn cách nên bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T và con là anh Phan T1 đã chiếm dụng phần đất liền kề của nguyên đơn để trồng cây cối. Khi nguyên đơn có ý định xây dựng tường rào cố định để ngăn cách thì bị đơn tranh chấp và cản trở không cho nguyên đơn thực hiện việc xây dựng tường rào. Bà Hoàng Thị Y cũng đã khiếu nại về việc bị đơn chiếm dụng quyền sử dụng đất liền kề nhiều lần tại chính quyền địa phương, chính quyền địa phương cũng đã tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng các bên đương sự cũng không thống nhất được với nhau về quyền sử dụng đất, phần đất liền kề đang tranh chấp là 68,2m² nên nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y mới khởi kiện tại Tòa án và yêu cầu Tòa án buộc bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T và gia đình phải chịu trách nhiệm trả lại quyền sử dụng phần đất liền kề đã bị chiếm dụng, có diện tích là 68,2m² cho nguyên đơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T và gia đình phải chịu trách nhiệm trả lại quyền sử dụng phần đất liền kề đã bị chiếm dụng là 68,2m² cho nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y và những người thừa kế hợp pháp của ông Phan L là ông Phan N, ông Phan N1, bà Phan Thị H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Về phía bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn thì tại phiên tòa vắng mặt nhưng quá trình lấy lời khai thì không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Theo kết luận của Cơ quan có thẩm quyền là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã H và Ủy ban nhân dân xã D thì xác định phần đất liền kề đang tranh chấp có diện tích 68,2m², nằm trong thửa đất số 64, tờ bản đồ 16, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông bà Phan L, Hoàng Thị Y. Ranh giới quyền sử dụng đất của hai thửa đất liền kề, được xác định là một đoạn thẳng, nối từ điểm 1 đến điểm 2, điểm hai đến điểm 3, theo bản vẽ hiện trạng đã được cung cấp cho Tòa án.

Xét thấy, phần đất liền kề giữa hai thửa đất đang tranh chấp có diện tích là 68,2m², nằm trong thửa đất số 64, tờ bản đồ 16, có diện tích là 2.030,9m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H là thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông bà Phan L, Hoàng Thị Y, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 942243, đã được Ủy ban nhân dân thị xã H, cấp vào ngày 17/11/2014 cho ông bà Phan L, bà Hoàng Thị Y. Do đó, xét yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa là có căn cứ nên cần được chấp nhận, buộc bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T và anh Phan T1 phải chịu trách nhiệm trả lại quyền sử dụng phần đất liền kề đã chiếm dụng có diện tích là 68,2m² (ký hiệu thửa đất số 147) cho bà Hoàng Thị Y và những người thừa kế hợp pháp của ông Phan L (là ông Phan N, ông Phan N1, bà Phan Thị H) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật (có bản vẽ hiện trạng thửa đất kèm theo).

Còn về ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn cho rằng phần đất đang tranh chấp có diện tích 68,2m² lâu nay bị đơn đang sử dụng là thuộc quyền sử dụng của bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tổ tụng để tham gia phiên tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt, coi như đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình trước phiên tòa. Mặt khác, theo bản vẽ hiện trạng thì diện tích của thửa đất số 48, tờ bản đồ 16, có diện tích theo hiện trạng hiện nay là 1.157,3m² (chưa kể phần chiếm dụng), đúng với diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp cho ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận về ý kiến và yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn trong vụ án.

Về ranh giới quyền sử dụng đất của hai thửa đất liền kề được xác định là một đoạn thẳng, nối từ điểm 1 đến điểm 2; từ điểm 2 nối đến điểm 3, theo bản vẽ hiện trạng thửa đất kèm theo bản án.

Các bên đương sự phải chịu trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh, cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật về đất đai.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo loại có giá ngạch là 341.000 đồng, tức là: (68,2m² x 100.000 đồng/m²= 6.820.000 đồng) x 5% = 341.000 đồng.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Là chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, lệ phí bản vẽ hết 8.000.000 đồng. Về phía người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết buộc mỗi bên phải chịu ½ chi phí tố tụng nói trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là để làm căn cứ giải quyết vụ án, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đương sự, nên mỗi bên phải chịu một nửa chi phí tố tụng nay, tức là 8.000.000 đồng : 2 = 4.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng đủ 8.000.000 đồng, nay được khấu trừ; Buộc bị đơn phải nộp lại số tiền 4.000.000 đồng để thanh toán lại cho nguyên đơn ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 146, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 và khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 175, Điều 176, Điều 189 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y đối với bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T. Tuyên xử:

- Xác định ranh giới liền kề giữa hai thửa đất là một đoạn thẳng, nối từ điểm 1 đến điểm 2, từ điểm 2 nối đến điểm 3. Phần đất liền kề đang tranh chấp ký hiệu thửa số 147, có diện tích 68,2m², thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ 16, có diện tích là 2.030,9m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H, là thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Hoàng Thị Y và những người thừa kế hợp pháp của ông Phan L, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang số hiệu BQ 942243, đã được Ủy ban nhân dân thị xã H cấp vào ngày 17/11/2014 cho ông Phan L và bà Hoàng Thị Y.

- Buộc bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T và anh Phan T1 phải chịu trách nhiệm trả lại phần đất liền kề đang chiếm dụng, có diện tích là 68,2m² ( ký hiệu là thửa đất 147), thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ 16, có diện tích là 2.030,9m², tọa lạc tại Thôn H, xã D, thị xã H, thành phố H cho nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y và những người thừa kế hợp pháp của ông Phan L (là ông Phan N, ông Phan N1, bà Phan Thị H) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật (Có bản vẽ hiện trạng thửa đất kèm theo).

Các bên đương sự phải chịu trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh, cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật về đất đai.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn là ông Phan Đ và bà Nguyễn Cửu Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 341.000 đồng.

3. Về chi phí tố tụng khác: Là chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, lệ phí bản vẽ hết 8.000.000 đồng, mỗi bên phải chịu một nửa số tiền này. Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y phải chịu 4.000.000 đồng, bà Y đã nộp tạm ứng đủ nên nay khỏi phải nộp nữa.

Buộc bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T phải chịu trách nhiệm nộp lại số tiền là 4.000.000 đồng, để thanh toán lại cho nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành đủ khoản tiền nói trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản lãi, theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

4. Báo cho nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Huế;
  • - VKSND TP Huê;
  • - VKSND TX. Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS TX. Hương Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, lưu dán.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY - THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 10/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY - THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y khởi kiện đối với bị đơn là ông bà Phan Đ, Nguyễn Cửu Thị T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger