Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN NAM

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/DS-ST.

Ngày 18/3/2025.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nàng Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trung Trực.
  2. Ông La Minh Công.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Hoài – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 342/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 14/TB-MPT ngày 17/02/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.
  • Địa chỉ: số D P, P.V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
  • Đại diện theo pháp luật: ông Trần Ngọc M – Tổng giám đốc.
  • Đại diện theo ủy quyền: bà Lê Trung V – Phó Tổng giám đốc
  • Đại diện theo ủy quyền: Lê Văn A – sinh năm: 1993 – Chuyên viên chính Xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ.
  • Địa chỉ: số L, đường T, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V1 – sinh năm: 1957.
  • Bà Trần Thị Kim S – sinh năm: 1961.
  • Địa chỉ thường trú: thôn V, xã M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Lê Văn A trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (gọi tắt là ngân hàng TMCP K) có ký với vợ chồng ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S: Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 178/21/HĐHM/2502-12317 ngày 18/10/2021; Hợp đồng tín dụng từng lần số 178/21/HĐTD/2502-12317 ngày 20/10/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 36578933/21/KUNN/2502-12317 ngày 20/10/2021, Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 36606983/21/KUNN/2502-12317 ngày 22/10/2021 để vay tổng số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng); Mục đích vay: B; Giải ngân ngày: 20/10/2021; Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên (từ ngày 20/10/2021 đến ngày 20/10/2022); Lãi suất cho vay 10,6%/năm, cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo KUNN. Kể từ tháng thứ 04 tính từ ngày giải ngân theo KUNN, Lãi suất vay được điều chỉnh 03 tháng/lần và Lãi suất vay điều chỉnh được tính như sau: Lãi suất vay bằng (=) Lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng của loại tiền Bên vay đang vay, loại lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng K tại thời điểm thay đổi lãi suất vay cộng (+) biên độ 3,7%/năm. Lãi suất vay sau khi thay đổi không được thấp hơn LSV tối thiểu hiện hành tại Ngân hàng K (cùng loại hình và phương thức vay); Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm; Kỳ hạn trả lãi vay: hàng tháng, ngày trả lãi vay đầu tiên là ngày 05/09/2020; Tiền lãi phải trả bằng (=) Dư nợ vay thực tế nhân (x) lãi suất vay (%/năm) nhân (x) Số ngày vay thực tế chia (:) 365. Trong đó, nếu số ngày vay thực tế chưa đủ 01 ngày thì được tính đủ 01 ngày; Kỳ hạn trả nợ gốc: cuối kỳ. Ngày trả nợ gốc đầu tiên là ngày 30/07/2021.

Tài sản đảm bảo thế chấp là: Quyền sử dụng đất tọa lạc tại địa chỉ Thôn V, Xã M, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CU 242747, số vào sổ cấp GCN số CH 02533, thửa đất số 19, tờ bản đồ số 45; diện tích: 510,0m²; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn: 300,0m²; đất trồng cây lâu năm 210,0m², thời hạn sử dụng: Đất ở tại nông thôn: lâu dài; Đất trồng cây lâu năm: Đến ngày 01/07/2064 nguồn gốc sử dụng: công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất 300,0m²; công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất 210,0m² do UBDN huyện H cấp ngày 23/06/2020.

Tài sản đảm bảo nêu trên được thế chấp tại Ngân hàng TMCP K theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 178/21/HĐTC-BĐS/2502-12317 ngày 18/10/2021, đã được công chứng tại Phòng C, tỉnh Bình Thuận, số công chứng 003533, quyền số 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện H, tỉnh Bình Thuận – chứng nhận ngày 20/10/2021.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S đã trả tiền lãi cho ngân hàng TMCP K số tiền 68.541.123 đồng (sáu mươi tám triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm hai mươi ba đồng).

Kể từ ngày 06/11/2022 đến ngày 18/3/2025, bà Trần Thị Kim S và ông Nguyễn Văn V1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng K số tiền theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 178/21/HĐTD/2502-12317 ngày 20/10/2021, cụ thể như sau:

Đối với giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 36578933/KUNN/2502-12317 ngày 20/10/2021 tạm tính đến ngày 18/03/2025: tiền gốc phải trả là 490.000.000 đồng (bốn trăm chín mươi triệu đồng); lãi quá hạn 223.020.479 đồng (hai trăm hai mươi ba triệu không trăm hai mươi ngàn bốn trăm bảy mươi chín đồng). Tổng cộng là 713.020.479 đồng (bảy trăm mười ba triệu không trăm hai mươi ngàn bốn trăm bảy mươi chín đồng).

Đối với giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 36606983/KUNN/2502-12317 ngày 22/10/2021 tính đến ngày 18/03/2025: tiền gốc là 110.000.000 đồng (một tram mười triệu đồng); lãi quá hạn 49.485.685 đồng (bốn mươi chín triệu bốn trăm tám mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi lăm đồng). Tổng cộng là 159.485.685 đồng (một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm tám mươi lăm ngàn sáu trăm tám mươi lăm đồng).

Nay Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam buộc ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng số tiền là 872.506.164 đồng (tám trăm bảy mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu ngàn một trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó số tiền nợ gốc là: 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng), số tiền lãi quá hạn là 272.506.164 đồng (hai trăm bảy mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu ngàn một trăm sáu mươi bốn đồng) và toàn bộ các khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 19/3/2025 cho đến khi ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Bị đơn bà Trần Thị Kim S trình bày.

Bà Trần Thị Kim S và ông Nguyễn Văn V1 có quan hệ vợ chồng và sống với nhau tới nay. Vợ chồng bà có ký với Ngân hàng TMCP K Hợp đồng tín dụng từng lần số 178/21/HĐTD/2502-12317 ngày 20/10/2021 với số tiền vay là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng); Mục đích vay chăm sóc C1; Lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi suất lãi chậm trả như hai bên đã ký tại Hợp đồng tín dụng số 178/21/HĐTD/2502-12317 ngày 20/10/2021. Sau khi thực hiện ký kết hợp đồng, vợ chồng bà đã nhận đủ số tiền vay, thời gian đầu vợ chồng bà vẫn trả lãi theo kỳ đầy đủ cho ngân hàng, thời gian sau đó bà không nhớ rõ do làm thanh long thất bại nên vợ chồng bà không có khả năng trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng TMCP K.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay là Quyền sử dụng đất tọa lạc tại địa chỉ Thôn V, Xã M, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CU 242747, số vào sổ cấp GCN số CH 02533, thửa đất số 19, tờ bản đồ số 45; diện tích: 510,0m²; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn: 300,0m²; đất trồng cây lâu năm 210,0m², thời hạn sử dụng: Đất ở tại nông thôn: lâu dài; Đất trồng cây lâu năm: Đến ngày 01/07/2064 nguồn gốc sử dụng: công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất 300,0m²;công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất 210,0m² do UBDN huyện H cấp ngày 23/06/2020. Tài sản đảm bảo nêu trên được thế chấp tại Ngân hàng TMCP K theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 178/21/HĐTC-BĐS/2502-12317 ngày 18/10/2021, đã được công chứng tại Phòng C, tỉnh Bình Thuận, số công chứng 003533, quyền số 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện H, tỉnh Bình Thuận – chứng nhận ngày 20/10/2021.

Bà thừa nhận vợ chồng bà còn nợ ngân hàng TMCP K số tiền nợ gốc là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và số tiền lãi như hai bên đã ký tại Hợp đồng tín dụng số 178/21/HĐTD/2502-12317 ngày 20/10/2021. Bà xin được gia hạn trong vòng 1 năm để trả nợ cho ngân hàng.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn V1 không đến Tòa làm việc cũng không trình bày ý kiến của mình mặc dù Tòa án đã triệu tập, niêm yết các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng, riêng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Qua lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy vợ chồng ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đối với khoản vay theo hợp đồng tín dụng từng lần số 178/21/HĐTD/2502-12317 ngày 20/10/2021 là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299, Điều 303, Điều 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Án lệ số: 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số: 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; căn cứ vào các điều khoản của Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, đề nghị Hội đồng xét xử:
  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP K số tiền gốc 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) trong đó 490.000.000 đồng (bốn trăm chin mươi triệu đồng) theo khế ước nhận nợ số 36578933/KUNN/2502-12317 ngày 20/10/2021 và 110.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) theo theo khế ước nhận nợ số 36606983/KUNN/2502-12317 ngày 22/10/2021. Trả tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử 18/3/2025 là 272.506.164 đồng (hai trăm bảy mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu ngàn một trăm sáu mươi bốn đồng). Tiền lãi tính tiếp từ ngày 19/3/2025 cho đến khi trả hết nợ.
  • - Trường hợp ông V1, bà S không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ trên thì ngân hàng K có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự huyện H phát mãi tài sản thế chấp trên để bảo đảm cho khoản vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngân hàng TMCP K nộp đơn khởi kiện trực tiếp cho Tòa án, hình thức và nội dung đơn phù hợp quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S còn trong thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015. Hợp đồng tín dụng được ký kết và thực hiện tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm b, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP K các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 178/21/HĐTD/2502-12317 ngày 20/10/2021 tính đến hết ngày 18/03/2025 tổng số tiền là 872.506.164 đồng (tám trăm bảy mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu ngàn một trăm sáu mươi bốn đồng) trong đó số tiền nợ gốc là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) gồm 490.000.000 đồng (bốn trăm chín mươi triệu đồng) theo khế ước nhận nợ số 36578933/KUNN/2502-12317 ngày 20/10/2021 và 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng) theo theo khế ước nhận nợ số 36606983/KUNN/2502-12317 ngày 22/10/202, số tiền lãi quá hạn là 272.506.164 đồng (hai trăm bảy mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu ngàn một trăm sáu mươi bốn đồng) và toàn bộ các khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 19/3/2025 cho đến khi ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ.

Trong trường hợp ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S không trả số tiền nói trên thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm thế chấp để thu hồi nợ.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với yêu cầu trả tiền gốc: bà Trần Thị Kim S, ông Nguyễn Văn V1 ký với Ngân hàng K Chi nhánh B1 - PGD Hàm Tiến Hợp đồng tín dụng từng lần số 178/21/HĐTD/2502-12317 để vay số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng). Theo hợp đồng tín dụng trên thì ông V1, bà S ký Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ 36578933/KUNN/2502-12317 ngày 20/10/2021 để vay số tiền 490.000.000 đồng (bốn trăm chín mươi triệu đồng) và ký Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 36606983/KUNN/2502-12317 ngày 22/10/2021 để vay số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng). Thực hiện theo hợp đồng và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ thì ông V1 bà S đã nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông V1 bà S đã trả tiền lãi cho ngân hàng K số tiền 68.541.123 đồng (khoản vay 110.000.000 đồng trả lãi đến ngày 16/11/2022 là 14.151.123 đồng; khoản vay 490.000.000 đồng trả lãi đến ngày 06/11/2024 là 54.390.000 đồng) thì không trả nữa nên ngân hàng đã chuyển khoản vay thành nợ quá hạn. Nhận thấy, Hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K với bà Trần Thị Kim S, ông Nguyễn Văn V1 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Do vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên Ngân hàng TMCP K khởi kiện buộc ông V1, bà S phải trả cho ngân hàng số tiền gốc 600.000.000 đồng. Ông V1, bà S cũng thừa nhận có vay tiền và hiện nay còn nợ ngân hàng TMCP K số tiền gốc là 600.000.000 đồng. Do đó việc ngân hàng K khởi kiện buộc phải ông V1, bà S trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp theo quy định tại Điều 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Đối với yêu cầu trả nợ lãi: Hội đồng xét xử xét thấy, ông V1, bà S ký hợp đồng tín dụng để vay ngân hàng TMCP K số tiền gốc 600.000.000 đồng có thỏa thuận lãi suất trong hạn 10,6%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Do ông V1, bà S không thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng đúng quy định, cụ thể: Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ 36578933/KUNN/2502-12317 ngày 20/10/2021 vay số tiền 490.000.000 đồng, từ ngày 06/11/2022 bị đơn không trả tiền lãi nữa nên khoản vay chuyển thành nợ quá hạn, tiền lãi quá hạn tính đến ngày 18/3/2025 là 223.020.479 đồng; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 36606983/KUNN/2502-12317 ngày 22/10/2021 vay số tiền 110.000.000 đồng, từ ngày 16/11/2022 bị đơn không trả tiền lãi nên khoản vay trên chuyển thành nợ quá hạn, tiền lãi quá hạn còn nợ tính đến ngày 18/03/2025 là 49.485.685 đồng. Tổng số tiền lãi quá hạn ông V1, bà S chưa trả cho ngân hàng theo 02 khế ước nhận nợ tính đến ngày 18/03/2025 là 272.506.164 đồng.

Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và đề nghị ông V1, bà S phải trả là phù hợp với quy định về lãi suất của hợp đồng tín dụng phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 7, 8 và Điều 12 Nghị quyết: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý tài sản thế chấp: Xét tính pháp lý của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 178/21/HĐTC-BĐS/2502-12317 ngày 18/10/2021, Giấy cam kết ngày 20/10/2021 đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, yêu cầu của N hang T đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản nợ trên là có căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự 2015 và phù hợp với các thỏa thuận của hợp đồng thế chấp. Trường hợp ông Nguyễn Văn V1 và bà Trần Thị Kim S không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nói trên thì tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 45, diện tích 510,0m² (trong đó đất ở nông thôn 300,0 m² và đất trồng cây lâu năm 210m² có thời hạn sử dụng đến 01/07/2064), tọa lạc tại thôn V, Xã M, Huyện H, Tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CU 242747, số vào sổ cấp GCN số CH 02533 do UBND huyện H cấp ngày 23/06/2020 và tài sản trên đất là 01 căn nhà 01 tầng mái thái, diện tích 130 m² có đặc điểm: Tường gạch, mái ngói, nền gạch Ceramic được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật dân sự năm 2015 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Ngân hàng TMCP K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.318.601 đồng theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0014277 ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

Qua xem xét đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm của ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S, xét thấy ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S đã trên 60 tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) ngân hàng TMCP K đã tạm ứng trước cần buộc ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S phải nộp lại để hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm b, g khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 91; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266, Điều 269 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Các Điều 274, 275, 280, 292 và Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Điều 27, 30 và Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Án lệ số: 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số: 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  • Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP K đối với ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S.

Buộc ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S phải có trách nhiệm liên đới trả cho ngân hàng TMCP K các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng cùng các khế ước nhận nợ đính kèm đã ký giữa hai bên với số tiền tính đến ngày 18/3/2025 là 872.506.164 đồng (tám trăm bảy mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu ngàn một trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) gồm 490.000.000 đồng ( bốn trăm chín mươi triệu đồng) theo khế ước nhận nợ số 36578933/KUNN/2502-12317 ngày 20/10/2021 và 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng) theo theo khế ước nhận nợ số 36606983/KUNN/2502-12317 ngày 22/10/202, Nợ lãi quá hạn là 272.506.164 đồng (hai trăm bảy mươi hai triệu năm trăm lẻ sáu ngàn một trăm sáu mươi bốn đồng). Từ ngày 19/03/2025 ông V1, bà S tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả các khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi ông V1, bà S hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nói trên thì Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 45, diện tích 510,0m² (trong đó đất ở nông thôn 300,0 m² và đất trồng cây lâu năm 210m² có thời hạn sử dụng đến 01/07/2064), tọa lạc tại thôn V, Xã M, Huyện H, Tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CU 242747, số vào sổ cấp GCN số CH 02533 do UBND huyện H cấp ngày 23/06/2020 và tài sản trên đất là 01 căn nhà 01 tầng mái thái, diện tích 130 m² có đặc điểm: tường gạch, mái ngói, nền gạch Ceramic được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật dân sự năm 2015 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K.

2. Về án phí: Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.318.601 đồng theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0014277 ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

Ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn V1, bà Trần Thị Kim S phải nộp số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ để hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/03/2025). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Thuận Nam;
  • - THADS huyện Hàm Thuận Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ – án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nàng Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 10/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà S có ký kết hợp đồng vay ngân hàng KL số tiền 600.000.000 đồng để chăm sóc C1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger