TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ ————— | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 10/2025/DS - ST Ngày: 11/06/2025 Về việc: “Đòi lại tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
—————
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đức Minh.
Các Hội thẩm nhân dân. Bà Võ Thị Thúy;
Bà Trương Thị Lệ Chi.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án dân huyện V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2025/TLST - DS ngày 26 tháng 3 năm 2025, về việc: “Đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST - DS ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QÐST - DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm: 1976; địa chỉ nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị, có mặt;
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm: 2002; địa chỉ nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Trần Thị N, sinh năm: 1972; địa chỉ nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;
- + Chị Lê Thị Ngọc Á, sinh năm: 1997; địa chỉ nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 3 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị T, trình bày:
Bà Trương Thị T và bà Trần Thị N có mối quan hệ quen biết nhau từ lâu. Ngày 18/5/2024, bà N có hỏi vay của bà T số tiền là: 100.000.000 đồng và chuyển vào số tài khoản cá nhân của con gái bà Nghĩa L chị Nguyễn Thị Mỹ T1 và được bà T đồng ý, lúc đó bà T nhờ chị Lê Thị Ngọc Á hiện là nhân viên của bà T chuyển khoản số tiền trên vào số tài khoản của chị T1 thay cho bà T. Sau đó đến ngày 21/5/2024 bà N tiếp tục hỏi vay bà T số tiền là: 250.000.000 đồng, chuyển vào số tài khoản cá nhân của chị Nguyễn Thị Mỹ T1, bà T đã thực hiện chuyển khoản số tiền trên theo đúng như yêu cầu bà N. Tại các chứng từ giao dịch sao kê ngân hàng đã thể hiện rõ số tiền vay và ngày vay.
Tổng số tiền đã chuyển khoản vào số tài khoản của chị Lê Thị Ngọc T2 là: 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng.
Bà T đã yêu cầu chị T2 và thông qua bà Nghĩa L mẹ chị T2 để đòi lại số tiền trên nhiều lần nhưng chị T2 vẫn cố tình không trả. Do thời gian vay tiền của bà T đã lâu và không có ý thức trả nên bà T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh giải quyết: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ T1 phải hoàn trả lại số tiền là: 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng cho bà T.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho chị T1, bà N nhưng chị T1, bà N không có mặt và cũng không có ý kiến gì. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho chị T1, bà N đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng chị T1, bà N vẫn vắng mặt.
Tại phiên Tòa:
Nguyên đơn bà Trương Thị T: Giữ nguyên yêu cầu buộc chị T1 phải trả lại tổng số số tiền đã vay cho bà T là: 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng. Ngoài ra, bà T không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N: Vắng mặt.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 26/3/2025 và tại phiên Tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan chị Lê Thị Ngọc Á, trình bày: Chị Á là nhân viên làm việc cho bà T. Vào ngày 18/5/2024, bà T có nhờ chị Á chuyển khoản số tiền là 100.000.000 đồng vào số tài khoản của chị Nguyễn Thị Mỹ T1, chị Á đã thực hiện chuyển khoản số tiền trên theo đúng yêu cầu của bà T và bà T cũng đã trả lại số tiền trên cho chị Á. Ngoài ra, chị Á không chuyển khoản cho chị T1 thêm lần nào khác và việc bà T cho chị T1 hay bất kể ai vay tiền nữa không thì chị Á khẳng định không biết. Nay, bà T yêu cầu chị T1 phải trả lại tổng số tiền cho bà T là: 350.000.000 đồng (trong đó có 100.000.000 đồng mà chị Á đã chuyển khoản cho chị T1) thì chị Á hoàn toàn đồng ý với yêu cầu của bà T và không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp đòi lại tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hiện bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T1, cư trú tại: Khu phố C, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị và nguyên đơn bà Trương Thị T có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị T1, bà N.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T: Bà T cho rằng bà N đã vay số tiền là 350.000.000 đồng của bà T nhưng lại yêu cầu chuyển khoản vào số tài khoản cá nhân của chị T1 là con gái bà N, vì vậy bà T đã đòi lại số tiền trên đối với chị T1. Qua nhiều lần đòi lại số tiền trên với chị T1 thông qua bà N nhưng không ai thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền cho bà T. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị Nguyễn Thị Mỹ T1 trả lại cho bà T số tiền là 350.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà T đã cung cấp các chứng từ giao dịch sao kê ngân hàng thể hiện rõ số tiền vay và ngày vay cụ thể: Ngày 18/5/2024, chị Lê Thị Ngọc Á là nhân viên của bà T chuyển vào số tài khoản cá nhân chị Nguyễn Thị Mỹ T1 số tiền là 100.000.000 đồng và ngày 21/5/2024, bà T chuyển vào số tài khoản cá nhân của chị Nguyễn Thị Mỹ T1 số tiền là 250.000.000 đồng.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị T1, bà N đến Tòa án để lấy lời khai; đối chất và hòa giải về việc bà T đòi lại số tiền là 350.000.000 đồng nhưng chị T1, bà T cố tình vắng mặt không có lý do. Chứng tỏ chị T1, bà T đã từ bỏ quyền của mình và chị T1 thừa nhận đã nhận số tiền 350.000.000 đồng từ bà T, nên chị T1 có nghĩa vụ phải hoàn trả cho bà T số tiền: 350.000.0000 đồng theo như các giao dịch sao kê ngân hàng mà phía bên nguyên đơn cung cấp.
Do đó, nguyên đơn bà Trương Thị T yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T1 phải có nghĩa vụ trả lại số tiền là: 350.000.000 đồng là có cơ sở, có căn cứ theo quy định tại Điều 166, Điều 280 Bộ luật dân sự, nên cần chấp nhận.
Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả lãi xuất chậm trả nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 95, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 280 của Bộ luật dân sựkhoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị T:
Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ T1 phải có nghĩa vụ trả lại tổng số tiền đã mượn cho bà Trương Thị T là: 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T1 có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: 17.500.000 (Mười bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.
- - Nguyên đơn bà Trương Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Trương Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 8.750.000 (tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0000028 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Đức Minh |
Bản án số 10/2025/DS - ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về đòi lại tài sản
- Số bản án: 10/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trương Thị T yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ T1 trả lại tài sản
