Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 10/2025/DS-ST

Ngày 11/3/2025

“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Khánh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Thắng và bà Võ Thị Hoa Hằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 184/2024/TLST - DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST- DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST- DS ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (Ngân hàng S1); địa chỉ trụ sở: Số B - B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Như Q - Chuyên viên kiểm soát tuân thủ Ngân hàng TMCP S chi nhánh Q1 (Giấy ủy quyền ngày 04/02/2025). Bà Q có mặt.

- Bị đơn: Ông Trương Văn H; địa chỉ: Khu phố B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày:

Ngày 29/4/2022, ông Trương Văn H có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Căn cứ vào thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số 970403-6534 với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 74.800.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông H đã thanh toán tối thiểu hàng tháng đến ngày 15/9/2023 (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng). Từ đó đến nay, ông H không thanh toán thêm kỳ nào nữa. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên lạc và nhắc nhở nhưng ông H vẫn không thanh toán nợ, vi phạm các điều khoản quy định tại hợp đồng đã ký nên Ngân hàng đã chuyển qua nợ quá hạn vào ngày 15/02/2024.

Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết như sau:

- Buộc ông Trương Văn H phải trả ngay cho Ngân hàng S1 với tổng số tiền tính đến ngày 10/02/2025 là 89.995.550 đồng, trong đó: Dư nợ 59.975.987 đồng; lãi quá hạn: 30.019.563 đồng.

- Buộc ông Trương Văn H phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 11/02/2025 cho đến khi ông H trả hết nợ cho ngân hàng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký.

Tại phiên toà, Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Văn H1 phải trả ngay cho Ngân hàng với tổng số tiền tính đến ngày 10/02/2025 là 89.995.550 đồng, trong đó: Dư nợ 59.975.987 đồng; lãi quá hạn: 30.019.563 đồng.

Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử buộc ông Trương Văn H phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến 10/02/2025 là 89.995.550 đồng, trong đó: Dư nợ 59.975.987 đồng; lãi quá hạn: 30.019.563 đồng.

- Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP S với ông Trương Văn H phát sinh từ yêu cầu phát hành thẻ tín dụng. Ông Trương Văn H có địa chỉ cư trú tại: Khu phố B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Do đó xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về cấp tống đạt văn bản tố tụng:

Tại biên bản xác minh ngày 03/01/2025, xác nhận ông Trương Văn H và vợ là bà Hoàng Thị N có hộ khẩu thường trú tại số nhà B, đường N, khu phố B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, lần 2; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho vợ ông Trương Văn H theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1 và lần 2 nhưng ông Trương Văn H vắng mặt. Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án, nhưng phiên tòa ngày 25/02/2025 ông Trương Văn H vắng mặt lần thứ nhất mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định phiên tòa được xét xử vào ngày 11/3/2025. Tại phiên tòa, bị đơn ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Trương Văn H.

[3] Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

Ngày 29/4/2022, ông Trương Văn H có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Căn cứ vào thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số 970403-6534 với mục đích tiêu dùng cá nhân số tiền 50.000.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng tối thiểu hàng tháng đến ngày 15/9/2023 (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng) và sau đó không thanh toán nữa, ông H đã vi phạm mục 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn vào ngày 15/02/2024 với số tiền 59.975.987 đồng. Nên có căn cứ chấp nhân yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng với dư nợ buộc ông Trương Văn H phải trả là 59.975.987 đồng (Năm mươi chín triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, chín trăm tám mươi bảy đồng).

- Về tiền lãi: Do ông H2 đã vi phạm Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S1, nên Ngân hàng đã áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ. Theo thỏa thuận giữa Ngân hàng S1 và ông Trương Văn H thì lãi suất là 33,2%/năm, lãi quá hạn bằng 150% của lãi trong hạn. Tại Quyết định số 816/2023/QĐ-TT.PTSPCN ngày 31/3/2023 của Ngân hàng S1 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ T1 phát hành tại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 06/4/2023 thì lãi suất trong hạn là 2,767%/tháng (Lãi suất trong hạn theo Biểu phí trong từng thời kỳ quy định tại mục 1.24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) nên lãi suất quá hạn là 4,15%/tháng. Xét thấy mức lãi suất phù hợp với quy định của Luật Tổ chức tín dụng nên cần chấp nhận, buộc ông Trương Văn H phải trả cho Ngân hàng S1 khoản tiền lãi từ ngày 15/02/2024 đến ngày 10/02/2025 là 30.019.563 đồng (Ba mươi triệu, không trăm mười chín nghìn, năm trăm sáu mươi ba đồng) theo Tóm tắt sao kê của Ngân hàng ngày 04/02/2025.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 4.499.800 đồng (Bốn triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn tám trăm đồng). Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, xử:

  1. Buộc ông Trương Văn H phải trả cho Ngân hàng TMCP S theo yêu cầu cấp Thẻ tín dụng số 970403-6534 ngày 29/4/2022 với tổng số tiền tính đến ngày 10/02/2025 là 89.995.550 đồng (Tám mươi chín triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm năm mươi đồng) trong đó: Dư nợ 59.975.987 đồng (Năm mươi chín triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, chín trăm tám mươi bảy đồng); lãi quá hạn: 30.019.563 đồng (Ba mươi triệu, không trăm mười chín nghìn, năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
  2. Kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký kết.

    Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc ông Trương Văn H phải chịu 4.499.800 đồng (Bốn triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 2.068.000 đồng (Hai triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000618 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

  4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TP Đông Hà;
  • - Các đương sự;
  • - THADS TP Đông Hà;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Ngô Thị Khánh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 10/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger