Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/DS-PT

Ngày: 23/6/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Vân.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Nguyễn Minh Thành.
  2. Ông Nguyễn Hành .

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Hiền Thương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2025/QĐ-PT, ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai (vắng mặt). Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1975; Địa chỉ: A N, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Đặng Chinh K, sinh năm 1974 - Chủ hộ kinh doanh Đặng Chinh K; Địa chỉ: I H, tổ dân phố B, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Chị Phạm Thị Công Anh T2, sinh năm 1995; địa chỉ: E Bà T, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP V (Sau đây viết tắt là V1) Chi nhánh G - Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Đức C - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ VpBank phía V1; địa chỉ: C T, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Theo văn bản ủy quyền số 990/2023 ngày 20/8/2023 của Ngân hàng TMCP V. Vắng mặt.

Do có kháng cáo của: Bị đơn ông Đặng Chinh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn ông Nguyễn Bá T và người đại diện theo ủy quyền trình bày: Vào ngày 26/5/2020, ông ký hợp đồng cầm cố tài sản số 748 với hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ T3 (ông Đặng Chinh K là chủ hộ) để vay 100 triệu đồng và cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford biển số 81C-161.66, chủ sở hữu là ông Nguyễn Bá T. Khi cầm cố ông đã thông báo rõ với ông K là xe này đang thế chấp tại ngân hàng. Sau đó, vào ngày 10/6/2020, ông tiếp tục vay thêm 20 triệu đồng để trả tiền nhân công, tổng số tiền vay là 120 triệu đồng và được bổ sung vào hợp đồng cũ. Khi đến hạn trả nợ, ông xin gia hạn do chưa thu được tiền. Tuy nhiên, đến tháng 11/2020 khi ông mang tiền đến trả thì được biết ông K đã tự ý bán chiếc xe cho một người làm ăn bên Lào, dù biết rõ xe đang bị thế chấp và không giữ bản gốc giấy đăng ký xe là vi phạm pháp luật. Do đó, yêu cầu Tòa án buộc tuyên hợp đồng cầm cố vô hiệu do vi phạm điều cấm pháp luật và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu. Buộc ông K phải bồi thường số tiền 438.682.600 đồng.

Bị đơn ông Đặng Chinh K trình bày: Ngày 26/5/2020, ông T cầm cố xe ô tô trên cho ông, kèm theo là giấy tờ xe là bản photo công chứng, ông T nói vì giấy gốc để ở nhà. Thấy xe chính chủ nên ông đồng ý cho vay 100 triệu đồng, thời hạn 30 ngày (từ ngày 26/5/2020 đến ngày 26/6/2020), lãi suất 3%/tháng. Ngày 10/6/2020, ông T vay thêm 20 triệu đồng. Đến hạn, ông T không đến chuộc xe và cũng không trả tiền lãi. Quá hạn 6 tháng, dù ông K nhiều lần liên lạc nhắc nhở yêu cầu trả tiền nhưng ông T vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Do đó, ông K bán xe cho một người làm ăn ở Lào số tiền 140.000.000 đồng để thu hồi nợ nay không rõ xe này ở đâu. Nay, ông T khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố và đòi bồi thường ông K không đồng ý vì hợp đồng được ký tự nguyện, đúng pháp luật, ông T vi phạm nhiều điều khoản của hợp đồng nên phải chịu trách nhiệm. Ông K đề nghị Tòa án xem xét toàn diện vụ việc để giải quyết đúng quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân Hàng V1 Chi nhánh G trình bày:

Ngày 09/01/2019, V1 Chi nhánh G, ký hợp đồng số LN1812211150928/GLI/HĐTC, cho ông Nguyễn Bá T vay 450 triệu đồng trong thời hạn 83 tháng (đến 09/12/2025) nhằm mục đích mua xe ô tô Ford Ranger 2.2 XL, MT mới 100%. Để đảm bảo khoản vay, ông T thế chấp chiếc xe mang biển số 81C-161.66, màu đen, loại xe tải (pick up ca bin kép), đăng ký lần đầu ngày 07/01/2019. Ngân hàng giữ bản gốc giấy đăng ký xe để đảm bảo quyền sở hữu và cấp giấy biên nhận thế chấp cho khách hàng sử dụng xe trong phạm vi pháp luật cho phép, không được chuyển nhượng hay cầm cố xe cho bên thứ ba nếu chưa có sự đồng ý của ngân hàng. Tuy nhiên, sau khi Tòa án thụ lý vụ án, V1 phát hiện ông T đã tự ý cầm cố chiếc xe cho K mà không thông báo hoặc xin phép ngân hàng. Việc làm này vi phạm quy định của Bộ luật Dân sự và hợp đồng cho vay đã ký. Do đó, V1 đề nghị Hộ kinh doanh Đặng Chinh K hoàn trả lại chiếc xe 81C-161.66 cho ông T theo đúng quy định pháp luật.

2

2. Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bá T.

Tuyên bố hợp đồng cầm cố tài sản số 748 xác lập ngày 26/5/2020 giữa ông Đặng Chinh K và ông Nguyễn Bá T là vô hiệu. Buộc ông Đặng Chinh K phải trả lại cho ông Nguyễn Bá T tổng số tiền là 345.833.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Đình chỉ một phần đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút về tính lãi suất bị thiệt hại. Nguyên đơn được quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu đã rút.

Về chi phí thẩm định giá tài sản: Buộc bị đơn ông Đặng Chinh K hoàn trả cho ông Nguyễn Bá T tổng số tiền là 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng); Về án phí: Buộc ông Đặng Chinh K phải chịu 17.591.600 đồng (Mười bảy triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Bá Trị S tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 14.320.000 đồng (Mười bốn triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001927 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Ngoài ra bản án còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Về kháng cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/4/2025, bị đơn ông K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 04/4/2025 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hồi. Ông K cho rằng bản án tuyên hợp đồng vô hiệu và xác định lỗi cả hai bên, nhưng không xác định thiệt hại. Ngoài ra, ông không đồng ý với việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận lãi suất 1,66%/tháng, trong khi ông đã trình bày rõ mức lãi suất 3% gồm cả chi phí kho bãi. Ông đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xem xét lại phần lãi suất và phân định rõ trách nhiệm của các bên trong hợp đồng. Tại phiên tòa bị đơn xin rút kháng cáo phần lãi suất 3%.

- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

3

Sau khi xem xét toàn diện hồ sơ vụ án, nội dung kháng cáo của bị đơn, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Xét Hợp đồng cầm cố tài sản:

Ngày 26/5/2020, ông Nguyễn Bá T và ông Đặng Chinh K ký kết Hợp đồng cầm cố số 748 đối với chiếc xe ô tô bán tải F Ranger biển số 81C-161.66, để vay số tiền 120.000.000 đồng; thời hạn 30 ngày. Tuy nhiên, tại thời điểm giao kết hợp đồng, Bản gốc đăng ký xe ô tô trên đang thế chấp tại Ngân hàng V1, để vay tiền. Ông T chỉ dùng bản sao công chứng cầm cố cho ông K, cả hai bên đều biết rõ tình trạng pháp lý của chiếc xe.

Như vậy, việc các bên ký kết hợp đồng cầm cố khi tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng để bảo đảm cho khoản vay khác mà không có ý kiến của Ngân hàng là không đủ điều kiện để thực hiện giao dịch và vi phạm điều cấm của pháp luật, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117, Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 3 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016. Do đó, hợp đồng cầm cố số 748 ngày 26/5/2020 là vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết. Cấp sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng vô hiệu là có căn cứ. Còn hậu quả của hợp đồng vô hiệu cấp sơ thẩm chỉ tuyên buộc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận mà chưa xác định thiệt hại và lỗi để bồi thường là thiết sót.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn:

[2.1] Ông K cho rằng bản án tuyên hợp đồng vô hiệu và xác định cả hai bên đều có lỗi và ngang nhau nhưng không xác định thiệt hại là chưa đảm bảo quyền lợi của ông, HĐXX thấy rằng:

Căn cứ Hợp đồng cố ngày 26/5/2020 (BL56) thể hiện nội dụng: Thời hạn hợp đồng 30 ngày, từ ngày 26/5/2020 đến ngày 26/6/2020; hết hạn hợp đồng mà không chuộc lại xe hoặc trả lãi để kéo dài thêm thời hạn thì cửa hàng có quyền bán để thu hồi vốn. Theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ (BL 46 – 55) thể hiện từ ngày 01/7/2020 đến ngày 02/11/2020 bị đơn liên tục nhắn tin thể hiện việc yêu cầu nguyên đơn trả gốc hoặc trả lãi nếu không sẽ bán xe sang Lào. Tuy nhiên, nguyên đơn không thực hiện đúng cam kết theo hợp đồng, việc bị đơn bán xe là thực hiện đúng nội dung thỏa thuận của hợp đồng đã ký.

Mặc khác, nguyên đơn là người biết rõ tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng nhưng vẫn cầm cố tài sản đã thế chấp mà không báo cho bên Ngân hàng biết; còn bị đơn biết tài sản đã thế chấp nhưng vẫn cầm cố.

Như vậy, xác định các bên đều có lỗi làm cho hợp đồng cầm cố vô hiệu. Cấp sơ thẩm đánh giá lỗi ngang nhau là phù hợp nhưng nhận định các bên tự chịu là không đúng pháp luật, chưa đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên; lỗi ngang nhau là mỗi bên 50% và phải chịu ½ giá trị thiệt hại. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo để xác định thiệt hại là có căn cứ.

[2.2] Về xác định thiệt hại:

Do chiếc xe ô tô bán tải Ford Ranger biển số 81C-161.66, bị đơn đã bán không xác định được người đang quản lý, sử dụng. Cấp sơ thẩm định giá và xác định trị giá xe còn lại là số tiền 477.785.000 đồng, trừ số tiền vay và buộc bị đơn trả lại toàn bộ số tiền trị giá của chiếc xe mà không xác định giá trị thiệt hại để chịu trách nhiệm bồi thường là không đúng pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 4 Điều 131 Bộ luật dân sự, quy định về xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu và xác định thiệt hại, buộc mỗi bên chịu số tiền cụ thể như sau:

Trị giá xe là 477.785.000 đồng - 120 .000.000 đồng (Số tiền vay) = 357.785.000 đồng.

Lỗi ngang nhau nên mỗi bên phải chịu 50% giá trị thiệt hại là số tiền: 357.785.000 x 50% =178.892.500 đồng.

Như vậy, bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 178.892.500 đồng.

[2.3] Về yêu cầu trả lãi của bị đơn:

Tại phiên tòa người kháng cáo rút không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Từ các phân tích trên, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lỗi, thiệt hại và buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 178.892.500 đồng là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về chi phí tố tụng:

Chi phí thẩm định giá số tiền 27.000.000 đồng, ông T đã nộp tạm ứng. Các bên đương sự phải chịu tương ứng với lỗi do mình gây ra. Nguyên đơn chịu 27.000.000 đồng x 50% = 13.500.000 đồng; bị đơn phải chịu 13.500.000 đồng và trả lại cho nguyên đơn.

[4] Về án phí:

Đơn khởi kiện của nguyên đơn được cấp nhận đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nên bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch 300.000 đồng.

Về án phí có giá ngạch: Nguyên đơn phải chịu tương ứng với số tiền 178.892.500 đồng x 5% = 8.944.625 đồng; Bị đơn phải chịu 8.944.625 đồng.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần, bị đơn ông Đặng Chinh K không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 117, Điều 122, khoản 4 Điều 131, các Điều 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đặng Chinh K.
  2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum

    Tuyên bố Hợp đồng cầm cố tài sản số 748 ngày 26/5/2020 giữa ông Nguyễn Bá T và ông Đặng Chinh K là vô hiệu toàn bộ.

    Buộc bị đơn ông Đặng Chinh K có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Bá Trị S tiền 178.892.500 đồng. (Một trăm bảy mươi tám triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm đồng).

  3. Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn Đặng Chinh K phải trả lại cho ông Nguyễn Bá Trị S tiền 13.500.000 (Mười ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
  4. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu số tiền 8.944.625 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.320.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001927 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi. Hoàn trả lại cho bị đơn số tiền 5.375.375 (Năm triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bảy mươi lăm) đồng.

    Buộc bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và án phí có giá ngạch là 8.944.625 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002208 ngày 22/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi. Bị đơn còn phải nộp tiếp số tiền 8.944.625 (Tám triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm hai mươi lăm) đồng.

  5. Về thi hành án:

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (trong trường hợp phải thi hành theo yêu cầu), nếu bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu thêm khoản lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - TAND huyện Ngọc Hồi;
  • - VKSND huyện Ngọc Hồi;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Hồi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Dương Thị Vân

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 10/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger