Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 10/2025/DS-PT

Ngày 21/02/2025

V/v tranh chấp thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Tăng;

Các Thẩm phán: Ông Trương Quang Tú;

Ông Hoàng Tuấn Trọng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Nhung - Thư ký Tòa án;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa phúc thẩm xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 69/2024/TLPT-DS ngày 11/11/2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do bản án số 20/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXXPT-DS ngày 02/01/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Đoàn Văn H, sinh năm: 1967; Hộ khẩu thường trú: phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum; “Vắng mặt”

    Người đại diện theo ủy quyền của anh H: Anh Bùi Khắc H1 - Luật sư thuộc Văn phòng L1. Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà N, Số B ngõ H N, phường D, quận C, TP .; “Vắng mặt”

  2. Đồng bị đơn:
    1. Anh Đoàn Văn K, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Y, D, K, Hưng Yên; “Vắng mặt”
    2. Anh Đoàn Văn Á, sinh năm 1984; Địa chỉ: Y, D, K, Hưng Yên; “Vắng mặt”

      Người đại diện theo ủy quyền của anh Á: Ông Nguyễn Khắc A – SN 1977; địa chỉ: Thôn A, xã L, TP H, tỉnh Hưng Yên. “Có mặt”

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Đoàn Thị B; sinh năm 1974. HKTT: 747 A, B, phường B, quận H, TP .. Hiện trú tại: Thôn M, xã V, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. “Có mặt”
    2. Chị Đoàn Thị L, sinh năm 1975; “Vắng mặt”
    3. Anh Đoàn Văn K1, sinh năm: 1969; “Có mặt”
    4. Chị Bùi Thị Kim O, sinh năm 1984; “Vắng mặt”

    Đều trú tại: thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên

    Người được anh Ánh và chị O uỷ quyền: Anh Đoàn Văn K; sinh năm: 1980. Địa chỉ: Y, D, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

  4. Cơ quan có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Người đại diện tham gia tố tụng: ông Trần Văn H2 – Phó Chủ tịch UBND xã D. “Vắng mặt”
  5. Người làm chứng: Ông Dương Đức K2, sinh năm 1958. Trú tại: thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Người kháng cáo: Chị Đoàn Thị B, anh Đoàn Văn K1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai tại Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, nguyên đơn anh H trình bày: Bố mẹ đẻ của anh H là cụ Đoàn Văn H3 và cụ Dương Thị N. Quá trình chung sống các cụ có tất cả 06 người con gồm: anh Đoàn Văn H, anh Đoàn Văn K1, chị Đoàn Thị B, chị Đoàn Thị L, anh Đoàn Văn K, anh Đoàn Văn Á.

Sinh thời cụ H3 và cụ N có tạo lập được một khối tài sản chung là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 383; địa chỉ thửa đất tại: thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; diện tích: 239,2 m² (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi chín phẩy hai mét vuông). Căn cứ theo Bản đồ địa chính xã D huyện K, tỉnh Hưng Yên. Thửa đất trên có trị giá khoảng 600.000.000₫ (Bằng chữ: Sáu trăm triệu đồng). Lúc còn sống các cụ đã lo dựng vợ, gả chồng cho tất cả các anh chị em trong gia đình, ai cũng được bố mẹ cho tiền hoặc nhà đất khi lập gia đình. Riêng bản thân anh H là con trai lớn trong gia đình, đã thoát ly sớm đi làm ăn xa để phụ giúp bố mẹ về kinh tế cho gia đình nhưng không được bố mẹ cho tiền hay nhà đất khi lập gia đình.

Ngày 14 tháng 10 năm 2016, cụ H3 mất không để lại di chúc. Đến ngày 01 tháng 01 năm 2021 cụ N mất, trước khi mất vì mong muốn cho anh H có nơi chốn đi về quê hương và một phần cũng muốn bù đắp cho những thiệt thòi của anh H nên đã làm di chúc để lại, tặng cho anh H toàn bộ phần tài sản của mình trong khối tài sản chung với cụ H3 là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số 383; Địa chỉ thửa đất tại: thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Diện tích: 239,2 m² (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi chín phẩy hai mét vuông). Di chúc này của cụ N có sự làm chứng của hai em anh H là Đoàn Văn K và Đoàn Thị L. Di sản mà Cụ H4, cụ N để lại hiện do hai em trai anh H là anh Đoàn Văn K và Đoàn Văn Á quản lý và sử dụng. Anh H và

toàn thể các anh chị em trong gia đình đã thỏa thuận, nhiều lần yêu cầu anh K và anh Ánh thực hiện di chúc của cụ N chia lại phần tài sản của cụ N để lại cho anh H để anh H xây dựng, sửa chửa nhà để có nơi ăn chốn ở mỗi khi về quê hương, phần còn lại vẫn để cho anh K và anh Á quản lý và sử dụng. Tuy nhiên, anh K và anh Á không đồng ý mà vẫn tiếp tục chiếm dụng toàn bộ diện tích nhà đất nêu trên. Nên để bảo đảm sự công bằng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho anh H đồng thời bảo vệ tính tôn nghiêm của pháp luật anh H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu giải quyết các vấn đề sau đây:

  1. Công nhận di chúc tặng cho tài sản ngày 11 tháng 11 năm 2019 của cụ N, Buộc anh K và anh Ánh phải trả lại cho anh H phần tài sản mà cụ N đã di chúc để lại cho anh H đối với Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số 383 tại thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  2. Phân chia phần di sản thừa kế của cụ H4 cho các đồng thừa kế (gồm 06 anh chị em) mỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế theo quy định pháp luật đối với Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất còn lại tại: Thửa đất số 383 ở thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Người được anh H ủy quyền là anh H1 nhất trí với quan điểm trình bày. Theo anh H1 tất cả các di chúc, giấy cho tặng mà các bên xuất trình đều không hợp pháp, do vậy, anh H1 đề nghị chia di sản thừa kế của cụ N, cụ H4 theo quy định của pháp luật. Đối với biên bản thẩm định ngày 22/11/2023, biên bản định giá tài sản ngày 21/03/2024 và sơ đồ xác định hiện trạng đất của địa chính xã D cung cấp vào ngày 19/06/2024, anh H1 nhất trí, không yêu cầu thẩm định, định giá lại tài sản. Anh H1 khẳng định từ trước đến nay giữa gia đình cụ H4, cụ N và hàng xóm, đã có ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp mốc giới.

Anh H1 khẳng định di sản của cụ N, cụ H4 gồm có: 01 diện tích đất là 133m² thuộc một phần thửa đất số 383, tờ bản đồ số 14, ở thôn Y, xã D, huyện K, Hưng Yên. Ngoài ra, còn có phần diện tích đất công thuộc quyền quản lý của UBND xã D là 98,8m², anh H1 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trên thửa đất số 383 có: 01 ngôi nhà 03 tầng, diện tích 73,6m2; 01 nhà vệ sinh đổ trần diện tích 11,7m2; 01 miếu thờ lợp ngói có diện tích 25,4m2; 01 lán tôn diện tích 18,6m2; 01 trụ cổng do chị O, anh K làm; 01 nhà cấp 4 lợp ngói có diện tích 65,9m2; 01 sân đổ bê tông diện tích 39,7m2; 01 tường bao phía trên có hàng rào sắt; 02 cánh cổng sắt đều do anh Á làm.

Đối với chi phí thẩm định, định giá tài sản, phía nguyên đơn tự nguyện chịu nên anh H1 không đề nghị Tòa án đặt ra giải quyết trong vụ án này.

· Đồng bị đơn đồng thời là người được đồng bị đơn anh Ánh và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị O ủy quyền là anh Đoàn Văn K trình bày: Anh K thừa nhận về hoàn cảnh gia đình, số lượng vợ con của cụ H4, cụ N như anh H, anh H1 trình bày là đúng. Ngoài ra, anh K bổ sung: Tại thời điểm bố mẹ anh còn sống thì cụ H4 có tuyên bố họp gia đình có chứng kiến của tất cả 06 anh chị em anh là đất của bố mẹ anh sống thì ở, chết thì để thờ và giao cho hai

anh em anh là anh và anh Ánh quản lý sử dụng. Theo anh K nguồn gốc đất là của em trai cụ N là ông Dương Văn K3 cho riêng bố mẹ anh ở. Sau đó cụ N, cụ H4 lại mua thêm đất và nộp tiền đất lần 2, đến lần thứ 3,4 thì anh Ánh là người nộp tiền mua đất. Cụ thể tổng số tiền nộp bao nhiêu thì anh không biết. Anh K có xuất trình hai biên lai trong đó 01 biên lai nộp số tiền 250.000₫ ghi ngày 08/03/1992, 01 biên lai nộp số tiền 8.000.000₫ không ghi ngày tháng, cả hai biên lai đều ghi tên người nộp là Dương Thị N. Khi còn sống, cụ N cũng có di chúc, có xác nhận của UBND xã với nội dung tương tự như tuyên bố của cụ H4. Tâm nguyện này của các cụ đã thông qua cho tất cả 06 anh chị em trong gia đình biết và không ai có ý kiến gì. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 do anh và anh Ánh góp tiền cho các cụ xây, tiền sinh hoạt phí của các cụ cũng do hai anh em anh bỏ ra. Lúc các cụ ốm đau cũng do hai anh chăm lo, anh H, chị B, chị L, anh K1 không đóng góp, xây dựng được gì trong khối tài sản trên đất của các cụ. Chị B cũng không chăm lo gì cho bố mẹ anh. Về đất mà anh H khởi kiện hai anh em anh, trong cuộc họp gia đình trước khi các cụ mất, anh H đã tuyên bố không lấy gì mà để lại cho anh Ánh làm nơi ở và thờ cúng, anh Ánh không được bán, chị B, chị L, anh K1 cũng tuyên bố như vậy. Sau này anh H lại thay đổi quan điểm, khởi kiện, tranh chấp di sản với hai anh em anh thì anh K không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh H, vì bố mẹ anh đã có di chúc không được phân chia, đất để giao cho anh Ánh quản lý làm nhà thờ và ở, không được bán. Nếu anh H cố tình đi ngược lại là không đúng. Anh và anh Ánh không tranh chấp, chỉ tuân theo di nguyện của bố mẹ anh. Đối với phần anh đóng góp xây nhà, chăm sóc bố mẹ thì anh không có yêu cầu, đề nghị gì vì đây là trách nhiệm của con cái đối với bố mẹ.

Đường ngõ vào nhà đất của các cụ thì anh Ánh đã mua hết của xã rồi, còn đường phía trước thì xã cũng bán quy hoạch giãn dân nên đất của bố mẹ anh không có đường đi ra, đi vào nên không có giá trị gì. Theo anh K, di sản của bố mẹ anh có một ngôi nhà cấp 4 do bố mẹ anh xây vào khoảng năm 1993- 1994, đến năm 2017- 2018 thì anh Ánh đã dỡ bỏ ngôi nhà cũ và xây dựng lại ngôi nhà cấp 4 mới, anh và anh Ánh cũng làm một lán tôn khung sắt phía trước nhà cấp 4. Trên đất mà anh K đang quản lý thì vợ chồng anh có xây dựng 01 ngôi nhà 03 tầng vào năm 2007. Trên đất của các cụ thì vợ chồng anh cũng có xây một ngôi nhà thờ cấp 4 vào năm 2023. Còn phần diện tích đất có ngôi nhà 3 tầng của vợ chồng anh xây thì vợ chồng anh đã mua lại của bố mẹ anh dưới hình thức là bố mẹ anh cho vợ chồng anh từ năm 2006, hàng tháng vợ chồng anh phải hỗ trợ trả cho ông bà là 1.000.000đ/1 tháng cho đến khi ông bà chết thì diện tích đất hoàn toàn là của vợ chồng anh. Cụ N cũng đã có di chúc và giấy chuyển nhượng cho vợ chồng anh. Trước khi bố mẹ anh mất thì gia đình đã có buổi họp vào ngày 10/08/2016, anh K có ghi âm lại và lập vi bằng xuất trình cho tòa án, nội dung tại cuộc họp anh H có thừa nhận bố mẹ cho anh H đất và anh H cho lại anh Ánh để ở, sử dụng, còn phần nhà mà vợ chồng anh K xây thì mỗi tháng vợ chồng anh phải trả cho cụ N, cụ H4 1.000.000đ cho đến khi các cụ mất thì phần đất đã xây nhà đó cho anh K. Đến nay, anh K cũng không có yêu cầu đề nghị gì về số tiền đã đưa cho bố mẹ anh.

Đối với phiếu thu 8.000.000₫ mà anh đã xuất trình thì nguồn gốc của số tiền là của anh Á đưa cho cụ N, khi đi nộp tiền anh Ánh là người đưa cụ N đi nộp nên anh K mới khai là anh Ánh là người mua đất, nhưng phiếu thu vẫn ghi tên cụ N nên cán bộ xã xác định cụ N là người nộp tiền, các anh cũng không xuất trình được chứng cứ gì nên anh K cũng nhất trí, cũng không có ý kiến gì. Việc cán bộ xã xác định cụ N đã mua 02 lần đất với tổng diện tích đất là 133m² là đúng. Anh K cũng thừa nhận, trong quá trình sử dụng đất thì gia đình anh có sử dụng lấn chiếm một phần đất công do UBND xã quản lý là đất ao cũ của hợp tác xã và đất ngõ đi như UBND xã xác định là đúng, còn phần anh khai là anh Ánh mua hết cả đất ngõ đi là anh khai nhầm.

Quan điểm của anh K là đất bố mẹ anh đã tặng cho hết vợ chồng anh và anh Ánh nên không còn gì để phân chia. Do anh Á không có nhà cửa, nghề nghiệp, không công việc, thậm chí anh K còn phải chu cấp thêm cho anh Ánh, nên lẽ ra các anh chị em phải bao bọc thêm chứ không ai lại đi tranh chấp với em. Còn đối với phần nhà thờ mà vợ chồng anh đã xây dựng, nếu để làm nhờ thờ chung không phân chia hoặc nếu phải đặt ra phân chia mà giao cho anh Ánh thì vợ chồng anh không có đề nghị gì, nếu phân chia mà giao cho người khác thì anh K đề nghị phải trả tiền xây dựng cho vợ chồng anh. Anh K cũng khẳng định cụ N có rất nhiều di chúc, nhưng bản di chúc mà cụ N cho anh Á đất có dấu xác nhận của UBND xã là bản đúng nhất, anh nhất trí với bản di chúc này. Thời điểm cụ N lập di chúc vô cùng minh mẫn, cụ cũng là người tự làm và thuê đánh máy di lúc, tự lên xin xác nhận của UBND xã.

Tại phiên họp ngày 29/07/2024, anh K khẳng định, phần diện tích đất mà hiện tại vợ chồng anh đã xây nhà, sử dụng đã được bố mẹ anh bán lại cho vợ chồng anh, dưới sự đồng ý, nhất trí của tất cả các anh chị em trong gia đình, thể hiện trong các file ghi âm mà anh đã lập vi bằng số 238/2023/VB-TPLQG, ngày 22/11/2023, cũng như các giấy tờ mà cụ N đã xác nhận đã nhận tiền của vợ chồng anh. Phần nhà đất còn lại bố mẹ anh đã cho anh Ánh thể hiện ở di chúc của cụ N đã được chứng thực tại UBND xã D. Quan điểm của anh K là toàn bộ kỷ phần của anh nếu được chia thì anh K cho anh Ánh, ngay cả phần nhà, đất mà vợ chồng anh đang sử dụng trên thửa đất có tranh chấp, vợ chồng anh cũng cho anh Ánh, vì hiện tại vợ chồng anh có chỗ ở khác ổn định. Vì vậy, anh K đề nghị tòa án giao toàn bộ quyền, nghĩa vụ về kỷ phần của anh K cũng như công sức của anh và chị O cho anh Ánh, không phải đặt ra tính giá trị nhà đất của anh chị để đối trừ, bồi thường. Lý do anh K cho anh Á như trên vì trong gia đình ngoài anh Ánh, tất cả các anh chị em đều đã có chỗ ở riêng, ổn định, tất cả đều có điều kiện về kinh tế chứ không phải thiếu thốn gì, chỉ riêng mình anh Ánh hiện tại vẫn chưa ổn định, kinh tế còn khó khăn nên anh cho hết anh Ánh.

· Lời khai của đồng bị đơn anh Đoàn Văn Á trình bày: Anh Ánh nhất trí với quan điểm trình bày của anh K và ủy quyền cho anh K thay anh tham gia tố tụng và quyết định mọi vấn đề có liên quan như nội dung giấy ủy quyền ngày 29/07/2024.

· Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đoàn Thị B trình bày: Chị B thừa nhận về hoàn cảnh gia đình, số lượng vợ con của cụ H4, cụ N như anh H trình bày. Trong quá trình chung sống bố mẹ chị có tạo lập được 01 diện tích đất là 239,2m² tại thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Trên đất, bố mẹ chị có xây dựng một ngôi nhà cấp 4 vào khoảng năm 1993 và có cải tạo sửa chữa nhiều lần, năm 2010 chị có làm lại cửa nhà, mua giường, khoảng năm 2018 thì anh Ánh làm lại trần nhà, vào khoảng năm 2021 chị đảo lại ngói nhà. Diện tích đất này của bố mẹ chị B vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lý do vì sao thì chị B cũng không biết. Chị B chỉ biết đây là đất mà bố mẹ chị B được cấp lại khi nhà nước mở rộng đường nên có thu hồi đất cũ của nhà chị B.

Kể từ sau khi bố mẹ chị B mất thì người quản lý, sử dụng đất là anh K và anh Ánh, trong đó anh Ánh thì quản lý, sử dụng nhà của bố mẹ chị B, còn vợ chồng anh K và chị O có xây dựng 01 ngôi nhà 3 tầng trên đất của bố mẹ chị B, khi xây thì tất cả anh chị em chị B đều biết và không có ý kiến gì vì bố mẹ chị B lúc đó cũng có nói là chỉ cho vợ chồng Khánh 01 mượn đất để xây nên đất này vẫn là đất của bố mẹ chị B, còn cụ thể hai bên thỏa thuận như thế nào thì chị B cũng không nắm rõ, vì chị B là con gái đã đi lấy chồng nên không tham gia gì. Về số tiền 1.000.000₫ mà anh K, chị O1 trả cho bố mẹ chị là do anh K, chị O1 xin bố mẹ mẹ chị cho dỡ 05 gian phòng trọ của bố mẹ chị để xây nhà 3 tầng nên anh K, chị O1 phải trả cho bố mẹ chị mỗi tháng một triệu cho đến khi các cụ mất nhưng anh K, chị O1 cũng chỉ trả được một thời gian rồi thôi chứ cũng không trả hết.

Chị B cũng có công chăm sóc các cụ, có đóng góp làm cửa nhà, làm lán tôn nhưng quan điểm của chị B đây là phần con cái báo hiếu cho bố mẹ nên chị B không đòi hỏi, không có yêu cầu đề nghị gì đối với phần công sức cũng như phần đóng góp này.

Di sản của bố mẹ chị B để lại chỉ có đất và nhà như trên, không còn gì khác. Khi bố mẹ chị B mất thì anh chị em của chị B không họp hành phân chia gì về di sản của bố mẹ chị B. Lúc bố mẹ chị B còn sống có nói là cho anh H là con trưởng nhà đất. Tuy nhiên, cũng chỉ nói miệng chứ không có giấy tờ gì và cũng chưa làm thủ tục cho tặng ai. Các anh chị em lúc đầu cũng có quan điểm nhà đất của bố mẹ, chị B để đấy để cho anh chị em có chỗ đi lại nhưng do anh Á láo, đánh cả chị B, cả anh H nên anh H mới làm đơn khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế của bố mẹ chị B. Về việc này chị B nhất trí phân chia di sản của bố mẹ chị B.

Đối với di chúc của mẹ chị B mà anh H xuất trình thì chị B không biết, cũng không được ký kết giấy tờ gì, cũng không ai nói cho chị B biết về giấy tờ này, nên chị B không nhất trí về di chúc này của mẹ chị B, đề nghị tòa án không công nhận di chúc này bởi chị B không đồng ý cho anh Hà tất C mà phải chia đều cho 06 anh chị em. Bản thân chị B cũng có di chúc của mẹ chị B là để lại nhà đất cho chị B, nhưng di chúc chỉ là viết tay, không có người ký chứng kiến,

không có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do vậy chị B đề nghị Tòa án phân chia di sản của bố mẹ chị theo quy định của pháp luật cho 06 anh, chị em chị. Phần của chị B thì chị B xin nhận bằng tiền vì chị B đã có chỗ ăn ở ổn định rồi.

· Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đoàn Thị L, anh Đoàn Văn K1 trình bày: Anh chị thừa nhận về hoàn cảnh gia đình, số lượng vợ con của cụ H4, cụ N như các đương sự khác trình bày là đúng. Theo chị L và anh K1, nguồn gốc đất là của cụ N, cụ H4 mua, tiền mua đất cũng là của các cụ. Anh chị cũng nhất trí với cung cấp của UBND xã D về diện tích đất của cụ N và cụ H4 là 133m², phần đất còn lại là sử dụng lấn chiếm đất công. Các công trình trên đất gồm nhà cấp 4, công trình phụ đổ trần, sân bê tông, tường bao, cánh cổng sắt, lán tôn đều do các cụ tạo lập. Còn lại nhà 03 tầng, nhà thờ do anh K, chị O1 xây. Quan điểm của chị L, anh K1 đề nghị tòa án phân chia di sản của bố mẹ anh chị theo quy định của pháp luật cho 06 anh chị em, chị L, anh K1 xin đề nghị được nhận kỷ phần của mình bằng tiền vì anh, chị đã có chỗ ở ổn định rồi.

· Xác minh tại xã D xác định: Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là của cụ N, cụ H4 mua của UBND xã D từ trước năm 1990, được thể hiện tại thửa số 06 tờ bản đồ số 02 (bản đồ 1990). Các cụ mua làm 02 lần, trong đó lần 1 mua 78,2m² (theo sơ đồ là 72m² nhưng thực tế đo đạc là 78,2m², có sai lệch là do sai số khi đo), lần 2 mua 54,8m². Tổng diện tích đất của các cụ xác định là 133m². Ngoài ra, trong quá trình sử dụng đất, gia đình cụ N, cụ H4 đã sử dụng lấn chiếm một phần đất ao của hợp tác xã cũ là 64,8m² và một phần đất ngõ đi là 34m². Cả hai phần đất này đều là đất công thuộc quyền quản lý của UBND xã D không được đặt ra phân chia thừa kế. Quan điểm của UBND xã D: Đối với diện tích đất công thuộc thẩm quyền quản lý của UBND xã D nằm trong phần diện tích đất đang có tranh chấp trong vụ án, UBND xã D không đề nghị Tòa án đặt ra giải quyết trong vụ án này. UBND xã D và đương sự sẽ tự giải quyết trên cơ sở pháp luật và đề nghị TAND huyện Khoái Châu cứ tiến hành giải quyết và xét xử vụ án nói trên vắng mặt đại diện UBND xã D.

Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Văn H:

  • Không công nhận giấy cho tặng lập ngày 11/11/2019, các di chúc lập ngày 23/01/2018, ngày 29/01/2018 và giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 19/01/2018 đều của cụ Dương Thị N.
  • Xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của cụ Đoàn Văn H3 và cụ Dương Thị N đối với diện tích đất là 133m², loại đất ở thuộc một phần thửa số 383, tờ bản đồ số 14 ở thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đoàn Văn K, chị Bùi Thị Kim O về đề nghị chia giao toàn bộ quyền, nghĩa vụ về áng trích công sức của anh K, chị O; kỷ phần thừa kế của anh K và toàn bộ phần công trình mà anh, chị tạo lập cho anh Ánh mà không yêu cầu hoàn trả, tính giá trị đối trừ.

*Phân chia di sản:

Chia giao toàn bộ diện tích đất 133m² của cụ N, cụ H3 và các công trình, vật kiến trúc có trên đất thuộc một phần thửa số 383, tờ bản đồ số 14 ở thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên, cho anh Đoàn Văn Á được toàn quyền sử dụng, định đoạt.

Trên phần đất chia giao cho anh Ánh có các công trình vật kiến trúc là 01 ngôi nhà cấp 4 có giá trị 65.900.000đ; 01 công trình phụ đổ trần có giá trị 10.530.000đ; 01 lán lợp tôn có giá trị 4.650.000đ; 01 sân bê tông có giá trị 1.985.000đ; 01 đoạn tường bao có giá trị 612.000đ, 02 cánh cổng sắt có giá trị 3.000.000đ đều do cụ N, cụ H3 tạo lập.

Ngoài ra còn có 01 phần nhà 3 tầng, 01 phần nhà thờ do anh K, chị O tạo lập. Anh Ánh có toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt mà không phải đặt ra tính giá trị để đối trừ kỷ phần.

Buộc anh Ánh phải thanh toán trả chênh lệch phần di sản được hưởng cho cho anh H, anh K1, chị L, chị B mỗi người là 70.000.000₫ (Bẩy mươi triệu đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, anh H, anh K1, chị L, chị B có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, nếu anh Ánh chậm thực hiện nghĩa vụ nói trên thì phải chịu lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của BLDS năm 2015.

Người được chia, giao quyền sử dụng đất có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ.

*Đối với đất công thuộc quyền quản lý của UBND xã quản lý:

Tạm giao cho anh Ánh sử dụng 2 phần đất là 64,8m² và 34m² thuộc một phần thửa số 383, tờ bản đồ số 14 ở thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Cả hai phần đất này đều là đất công thuộc quyền quản lý của UBND xã D. Trên phần đất này có 01 ngôi nhà 3 tầng, 01 ngôi nhà thờ cấp 4, 01 trụ cổng do anh K, chị O tạo lập, anh Ánh được toàn quyền sử dụng, định đoạt đối với các phần công trình, vật kiến trúc này. HĐXX không đặt ra xem xét giá trị bồi thường đối với công trình, cây cối mà các đương sự đã tạo lập trên các phần đất tạm giao này.

Anh Ánh có nghĩa vụ làm việc với UBND xã D về những vẫn đề phát sinh liên quan đến các diện tích đất công này theo quy định của pháp luật.

Vị trí, kích thước, mốc giới phần đất chia giao, tạm giao cho các đương sự có sơ đồ vẽ kèm theo bản án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và các vấn đề khác.

Ngày 06/09/2024 và ngày 09/9/2024, chị Đoàn Thị B và anh Đoàn Văn K1 có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu theo hướng chia kỷ phần thừa kế của anh K1, chị B bằng đất để anh K1, chị B xây dựng nhà thờ cho bố mẹ.

Tại phiên tòa: người kháng cáo không rút kháng cáo; nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được phương án giải quyết vụ án.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ cơ bản các quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi đã nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của chị B và anh K1 trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí nên được Tòa án xem xét.

[2] Về nội dung kháng cáo: Đối với yêu cầu kháng cáo xin nhận tài sản là hiện vật của chị B, anh K1, Hội đồng xét xử xét thấy: Các đương sự đều xác định diện hàng thừa kế, di sản thừa kế như án sơ thẩm đã xác định là đúng. Như vậy, di sản thừa kế của H3 và cụ N là thửa đất có diện tích 133m² đất ở tại thửa số 383, tờ bản đồ số 14 ở thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên và tài sản trên đất, sau khi trừ công sức duy trì quản lý khối di sản cho anh K, anh Ánh và chị O, giá trị di sản còn lại được chia chia làm 06 kỷ phần, tương ứng mỗi kỉ phần là 23,5m². Trong khi đó thửa đất có chiều rộng giáp mặt đường chỉ có 4,35m. Căn cứ vào khoản 2 Điều 6 Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND, ngày 05/7/2023 của UBND tỉnh H thì: “ Đối với các thửa đất ở tại nông thôn: Diện tích tối thiểu của thửa đất sau khi tách thửa là 40,0 m²; kích thước cạnh mặt đường và chiều sâu tối thiểu là 4,0m”. Như vậy, phần diện tích đất mà anh K1 và chị B mỗi người được 23.5m² không đủ điều kiện tách thửa. Hơn nữa quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm cả anh K1 và chị B đều có nguyện vọng được hưởng thừa kế bằng tiền. Do đó án sơ thẩm đã căn cứ vào thực tế kỷ phần các đương sự được hưởng, nhu cầu sử dụng và hiện trạng thửa đất cũng như điều kiện tách thửa để giao cho anh Ánh được quyền sử dụng đất, anh Á có trách nhiệm trả anh K1 và chị B giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền là có căn cứ.

Như vậy quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh K1 và chị B, giữ nguyên bản án sơ dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên là có cơ sở.

[3] Về án phí: Kháng cáo của anh khải và chị B không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Đoàn Thị B và anh Đoàn Văn K1.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu.
  3. Án phí phúc thẩm: Anh Đoàn Văn K1 và chị Đoàn Thị B mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, anh K1 được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh K1 đã nộp theo biên lai số 0002256 và chị B được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm chị B đã nộp theo biên lai số 0002257 ngày 09/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu. Anh K1 và chị B đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực thi hành.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND huyện Khoái Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Khoái Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Hoàng Hữu Tăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 10/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger