Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 110/2025/DS-PT
Ngày: 06/3/2025
V/v tranh chấp ranh giới đất; yêu cầu hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán : Ông Phùng Hải Hiệp;
: Ông Nguyễn Nam Thành.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Vũ Đức Minh- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 674/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh giới đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1674/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970; bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm F, thôn V, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội (có mặt);.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Luật sư Lại Xuân C, sinh năm 1979; địa chỉ: Tầng C, nhà số G phố N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội (có mặt).

Bị đơn có yêu cầu phản tố: Cụ Nguyễn Thị V, sinh năm 1939 (chết ngày 08/7/2019);

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ V:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm E, thôn V, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội; (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 (có mặt);
  3. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1971 (vắng mặt).
  4. Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  5. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Xóm F, thôn V, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà K, bà Á, bà T2 là ông Nguyễn Văn T1 (có mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn N1 – Công ty L2 - Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm F, thôn V, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội (có mặt).
  2. Ủy ban nhân dân huyện T. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến C1 – Chủ tịch UBND. Đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị T3 – Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (vắng mặt).

Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguồn gốc đất là đất cá thể của cố Nguyễn Văn V1 (chết năm nào không rõ) và cố Nguyễn Thị L (chết năm 1981). Hai cố có 5 người con là:

  1. Cụ Nguyễn Văn V2, chết khoảng năm 1957; có vợ là cụ Nguyễn Thị D; có con là ông Nguyễn Văn H
  2. Cụ Nguyễn Văn V3;
  3. Cụ Nguyễn Thị T4;
  4. Cụ Nguyễn Thị T5;
  5. Cụ Nguyễn Thị V;

Ông Nguyễn Văn S là con trai ông Nguyễn Văn H, ông H là con trai của cụ V2, cụ D. Cố nội của ông S là cố Nguyễn Văn V1 và cố Nguyễn Thị L, trước khi chết để lại một sào đất ở xứ Đầu Voi. Năm 1980, khi xóm đào đất của gia đình ông để làm đường thì đã đổi cho gia đình thêm phần đất và khi đó diện tích là hơn một sào.

Diện tích đất 180m² của gia đình ông S đã được cấp GCNQSD đất trước đây là do bố mẹ ông S là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T6 sử dụng trước năm 1980.

Năm 1981, cố L mất, năm 1982 cụ V, cụ T5 đã tự ý chia diện tích đất trên, mỗi người 04 miếng, còn 02 miếng chia cho cụ D và ông H (bố của ông S), sau đó gia đình ông S đã san lấp một phần diện tích đất đã đổi với xóm.

Năm 1994, ông H cho vợ chồng ông S thửa đất này, năm 1995 vợ chồng ông S làm nhà.

Năm 1998, gia đình ông S xây nhà cấp 4 diện tích khoảng 28m². Khoảng năm 2001 xây tường bao xung quanh đất năm phần trăm (đất giáp đường). Từ thời điểm năm 1998 đến năm 2001, quá trình ở trên đất này, ông S và bà N đã đổ đất và xây ra phần đất công giáp với đất 5% là đường đi (không giáp với phần đất của nhà cụ V), diện tích 19m². Năm 2002, thôn đã lập biên bản làm việc giải quyết việc chiếm đất và xây tường bao không đúng, gia đình xin đóng góp 900.000 đồng để được tồn tại.

Năm 2002, cụ V xây tường phần đất công, năm 2011 xây tường giáp đất ông S nhưng gia đình ông không đồng ý cho xây và đã làm đơn gửi UBND xã Đ đề nghị giải quyết.

Năm 2005, UBND xã Đ đã có biên bản xác định ranh giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng gồm cả phần đất ông S đổ lấn chiếm và được xử lý tồn tại.

Năm 2006, gia đình ông S kê khai quyền sử dụng đất và ngày 29/12/2006 UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 774519 mang tên Nguyễn Văn S và vợ là Nguyễn Thị N đối với diện tích 180m², thửa số 12, tờ bản đồ số 13, tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4, diện tích 28m², đồng thời ông S phải nộp hơn 76.000.000 đồng tiền sử dụng đất.

Ngày 28/4/2017, Công ty TNHH MTV K1 lập bản đồ hiện trạng đã xác định diện tích thửa đất của ông S là 116.5m² và khoảng 10m² đất nằm trong diện tích khoán thầu (vì diện tích đất này trước đây là lối đi đã mở cho cụ V đi nhờ). Như vậy, so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nhà ông S đang thiếu hơn 50m² là phần diện tích gia đình cụ V đang sử dụng, với chiều rộng khoảng hơn 3m và dài khoảng 21.5m (theo sơ đồ hiện trạng).

Nay ông S và bà N khởi kiện đề nghị Tòa án buộc gia đình cụ V phải trả lại nguyên đơn diện tích đất là 65m² đã lấn chiếm theo đúng sơ đồ ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp năm 2006 cho gia đình ông S tại thửa số 12, tờ bản đồ số 13, diện tích 180m² và theo đúng hiện trạng bản đồ địa chính năm 1994.

* Bị đơn cụ Nguyễn Thị V đã chết năm 2019, do ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng trình bày:

Nguồn gốc đất nguyên đơn và bị đơn sử dụng là của cố Nguyễn Văn V1 và cố Nguyễn Thị L để lại thừa kế cho các con. Hai cố có 5 người con. Năm 1981, cố L chết; cố V1 và cố L có để lại di sản gồm 03 thửa đất: 08 miếng đất ở xứ C cho cụ Nguyễn Thị D, vợ cụ V1; 1,2 sào đất ở xứ Đ Ngoài chia cho cụ Nguyễn Văn V1 và cụ Nguyễn Thị T4; 01 sào đất ở xứ Đầu Voi chia cho cụ Nguyễn Thị V 04 miếng, chia cho cụ Nguyễn Thị T5 04 miếng và còn lại 02 miếng chia cho cụ D (vợ cụ V1). Việc phân chia như trên là có sự thống nhất của tất cả các thành viên trong gia đình nhưng không lập văn bản gì mà chỉ thống nhất bằng miệng với nhau.

Sau khi thống nhất phân chia, thì các gia đình anh em là con của các Cố đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp gì. Năm 1994, do không có nhu cầu sử dụng nên vợ chồng cụ Nguyễn Thị T5 (có chồng là cụ Nguyễn Văn L1) đã chuyển nhượng cho cụ V 04 miếng đất được chia liền kề với thửa đất của cụ V. Như vậy, tổng cộng cụ V sử dụng 08 miếng đất tại xứ Đ.

Năm 1998, ông Nguyễn Văn S là cháu nội của cụ V2 ra làm nhà trên phần diện tích 02 miếng đất (được chia cho cụ D), cạnh 08 miếng của cụ V. Đồng thời, ông S xây tường ngăn ranh giới đất đủ 02 miếng và làm cổng ra phần đất khoán thầu.

Năm 2002, gia đình cụ V có mua thêm một phần đất khoán thầu xen kẹt để làm ngõ đi vào nhà, chiều rộng 2m, chiều dài khoảng 16m chạy dọc từ đường làng vào thửa đất của cụ V (có giấy nộp tiền 3.800.000₫ ngày 31/01/2002). Ngay sau đó, gia đình cụ V đã đổ đất san nền, xây nhà cấp 4, diện tích khoảng 20m² đồng thời xây tường bao xung quanh thửa đất và phần giáp ranh với gia đình ông S.

Kể từ năm 1998, khi gia đình ông S xây nhà mái bằng và xây tường bao quanh đất nhà ông S, đến năm 2002 khi gia đình cụ V xây nhà và tường bao quanh giáp tường ranh giới nhà ông S thì đều không xảy ra tranh chấp, khiếu kiện gì về mốc giới, ranh giới. Gia đình cụ V sử dụng ổn định và đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước và địa phương. Đầu năm 2017, khi chính quyền địa phương tiến hành đo đất thì ông S không cho đo đất của gia đình cụ V và có nói gia đình ông S đã được cấp sổ đỏ, lúc đó cụ V mới biết ông S làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lần lên phần đất nhà cụ V, có tranh chấp mốc giới với gia đình cụ V và cho rằng gia đình cụ V lấn sang diện tích đất ông S đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo cụ V được biết thì năm 2006, ông S đã kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích (02 miếng = 72m²) chia cho cụ D (ông nội ông S). Tại thời điểm đó, gia đình cụ V và gia đình ông S đều đã xây tường bao ngăn ranh giới rõ ràng hiện nay vẫn tồn tại và không hề có tranh chấp gì. Thế nhưng không hiểu vì lý do gì ông S lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất 180m² đã chồng lấn lên diện tích đất hợp pháp của gia đình cụ V với chiều rộng 04m, kéo dài hết thửa đất nhà cụ V.

Cụ V khẳng định việc gia đình cụ V sử dụng diện tích đất trên là hợp pháp và không hề có tranh chấp gì với gia đình ông S kể từ trước đến nay vì hai bên đều đã tự xây tường ngăn ranh giới rõ ràng. Không hiểu vì lý do gì ông S lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự chồng lấn sang diện tích đất của gia đình cụ V và là cơ sở để ông S, bà N khởi kiện ra Tòa án. Cụ V nhận thấy việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông S là không đúng nguồn gốc, thực tế sử dụng và quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông S, bà N.

Cụ V có đơn yêu cầu phản tố với nội dung đề nghị hủy bỏ một phần Giấy chứng nhận QSD, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AH 774519 mang tên ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N phần đất chồng lấn lên phần đất bà V.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

* Ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Ông nhất trí với phần trình bày của cụ V và đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi của gia đình ông.

* Ý kiến của UBND xã Đ: trình bày tại Báo cáo số 168/BC-UBND ngày 07/11/2022 như sau:

1. Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

Căn cứ hồ sơ địa chính: Theo hệ thống bản đồ năm 1994 thửa đất trên thuộc tờ bản đồ số 13, thửa đất số 12, diện tích 180m², có nguồn gốc đất sản xuất nông nghiệp cá thể (trồng màu) ông cha để lại trước năm 1980 cho ông Nguyễn Văn S, đến năm 1998 gia đình xây dựng nhà ở ổn định (ngày 09/12/2006, UBND xã Đ đã có biên bản xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất).

Thửa đất trên đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 774519, số vào sổ 1767/2006/QĐ-UBND/00364, theo Quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 mang tên ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N.

2. Về quá trình cấp GCNQSD đất:

- Ngày 31/10/2006, ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N có đơn gửi UBND xã Đại Áng xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được UBND xã Đ xác nhận ngày 05/11/2006. Ngày 31/10/2006, UBND xã Đ đã tiến hành lập biên bản xác định ranh giới thửa đất. Ngày 30/11/2006, UBND xã Đ đã họp Hội đồng xét cấp GCNQSD đất cho 57 trường hợp có đơn xin cấp GCNQSD đất (trong đó có thửa đất số 12, tờ bản đồ số 13, diện tích 180m² người sử dụng đất là ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N, địa chỉ thửa đất: thôn V, xã Đ). Ngày 30/11/2006, UBND xã Đ ban hành Thông báo số 44/TB-UB về việc công khai kết quả xét duyệt hồ sơ cấp GCNQSD đất ở theo Quyết định 23/2005/QĐ-UBND ngày 18/02/2005 của UBND thành phố H đối với 27 trường hợp đủ điều kiện cấp GCNQSD đất (trong đó có thửa đất số 12, tờ bản đồ số 13, diện tích 180m² - số thứ tự thứ 23 trong danh sách)

- Ngày 15/12/2006, UBND xã đã lập biên bản kết thúc công khai hồ sơ đã đủ điều kiện cấp GCNQSD đất ở xã Đ của 27 trường hợp. Thời gian thực hiện công khai là 15 ngày kể từ ngày 30 tháng 11 năm 2006 đến ngày 15 tháng 12 năm 2006. Trong thời gian công khai UBND xã Đ không nhận được đơn khiếu nại.

- Ngày 27/12/2006, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T đã ban hành Tờ trình số 214/TTr-UBND ngày 27/12/2006 về việc cấp GCNQSD đất ở cho 35 trường hợp đủ điều kiện tại xã Đ, huyện T, TP Hà Nội, trong đó có trường hợp của ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N (số thứ tự thứ 31 trong danh sách kèm theo). Ngày 29/12/2006, UBND huyện T ban hành Quyết định số 1767/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSD đất ở cho 35 trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy CNQSD đất tại xã Đ, huyện T, TP Hà Nội, trong đó có trường hợp của ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N (số thứ tự thứ 31 trong danh sách kèm theo) và thực hiện nộp các khoản nghĩa vụ tài chính: Nộp Lệ phí trước bạ và 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích 180m² được cấp Giấy CNQSD đất.

Quan điểm của UBND huyện T về việc cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N:

- Việc xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, tình trạng tranh chấp khiếu kiện là trách nhiệm của UBND xã Đ. UBND xã Đ khẳng định đã thực hiện đúng quy trình, trình tự cấp Giấy CNQSD đất theo Quyết định số 23/QĐ-UB ngày 18 tháng 02 năm 2005 của UBND thành phố H: Đã phát và nhận đơn kê khai, kiểm tra hiện trạng, họp Hội đồng xét duyệt, công khai các trường hợp đủ điều kiện cấp GCNQSD đất trên hệ thống loa truyền thanh. Trong quá trình công khai UBND xã Đ không nhận được đơn thư khiếu kiện nào liên quan đến việc cấp GCNQSD đất.

- Việc Phòng T thẩm định hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất trên cơ sở hồ sơ do UBND xã Đ trình lên, đối chiếu với các quy định tại thời điểm cấp Giấy CNQSD đất, hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất trên đủ điều kiện cấp Giấy CNQSD đất và thực hiện quy định, trình tự theo Quyết định số 23/QĐ-UB ngày 18 tháng 02 năm 2005 của UBND thành phố H và xử lý nghĩa vụ tài chính đúng theo quy định đối với diện tích được cấp Giấy CNQSD đất. Như vậy việc UBND huyện T cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân huyện huyện T đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 95, 97, 202, 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 175, 176 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi đất lấn chiếm (sử dụng vượt quá ranh giới) của ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N đối với người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Nguyễn Thị V do ông Nguyên Văn T7 đại diện theo uỷ quyền.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Nguyễn Thị V do ông Nguyên Văn T7 đại diện theo uỷ quyền về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N.

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm điều chỉnh diện tích đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 774519, số vào sổ 1767/2006/QĐ-UBND/00364, theo Quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 của UBND huyện T cấp, mang tên ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N theo hiện trạng diện tích đất sử dụng hợp pháp.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/6/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N và người đại diện theo uỷ quyền của ông S bà N là Luật sư Lại Xuân C trình bày giữ nguyên lời khai tại cấp sơ thẩm, giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (cụ Nguyễn Thị V).

Đại diện những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 không có ý kiến nào khác so với lời trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm và không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và hầu hết những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N, giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Ngày 20/6/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N kháng cáo đối với toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 11/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội là trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự trình bày giữ nguyên lời khai tại Toà án cấp sơ thẩm và đều thừa nhận nguồn gốc 02 thửa đất mà nguyên đơn và bị đơn đang sử dụng là của vợ chồng cố Nguyễn Văn V1 và cố Nguyễn Thị L (là cụ nội của nguyên đơn và là bố mẹ đẻ của bị đơn) để lại thừa kế.

[2.1] Theo lời khai của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N: Năm 1981, cố L mất. Năm 1982, cụ V, cụ T5 đã tự ý chia diện tích đất trên mỗi người 4 miếng, còn 2 miếng chia cho cụ D (là vợ của cụ V2, là bà nội của ông S) và sau đó nguyên đơn được thừa kế 02 miếng đất này.

[2.2] Theo lời khai của bị đơn là cụ Nguyễn Thị V: Cố Vỹ, cố L có để lại di sản gồm 03 thửa đất. Năm 1981, cố L chết các thành viên trong gia đình thống nhất bằng miệng, phân chia 03 thửa đất của cố V1, cố L để lại như sau: 08 miếng đất ở xứ C chia cho cụ Nguyễn Thị D, vợ cụ V2; 1,2 sào đất ở xứ Đ. Ngoài chia cho cụ Nguyễn Văn V3 và cụ Nguyễn Thị T4; 01 sào đất ở xứ Đ, chia cho cụ Nguyễn Thị V 04 miếng, chia cho cụ Nguyễn Thị T5 04 miếng và còn lại 02 miếng cho cụ D (vợ cụ V2).

[3] Về quá trình sử dụng đất:

[3.1] Theo lời khai của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N: Năm 1994, bố đẻ của ông S cho vợ chồng ông S được sử dụng 02 miếng đất của cụ D tại xứ Đầu Voi. Năm 1998 gia đình ông S xây nhà mái bằng diện tích 28m². Khoảng năm 1999, ông S xây bức tường từ nhà mái bằng ra đường, ngăn giữa đất nhà ông S với đất nhà cụ V. Năm 2001, ông S xây tiếp tường ngăn đợt 2 ra đến ngõ đi chung.

[3.2] Theo lời khai của phía bị đơn (cụ Nguyễn Thị V) và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn: Sau khi phân chia di sản là 01 sào đất tại xứ Đ, năm 1994 cụ V mua lại của cụ Nguyễn Thị T5 04 miếng đất, nên tổng số cụ V được sử dụng là 08 miếng đất tại xứ Đầu Voi. Năm 2002, gia đình cụ V xây nhà 20m² mái ngói và xây tường ngăn ranh giới sát tường ngăn ông S đã xây trước. Khi gia đình cụ V xây tường ngăn ranh giới, hai bên không có tranh chấp gì.

[3.3] Năm 2006, ông S bà N đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 774519, số vào sổ 1767/2006/QĐ-UBND/00364, theo Quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 với diện tích 180m². Đối với Thửa đất số 23 của gia đình cụ V thì chưa làm thủ tục đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2017, ông S mời Công ty TNHH một thành viên K1 và đo đạc bản đồ Hà Nội lập Hồ sơ kỹ thuật thửa đất. So với diện tích được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đất của gia đình ông S bị thiếu; ông S cho rằng gia đình cụ V đã lấn chiếm hơn 50m². UBND xã Đ hoà giải tranh chấp đất đai không thành, ông S gửi đơn khởi kiện đến Toà án.

[4] Theo các Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Toà án cấp sơ thẩm thực hiện và bản ảnh diện tích đất tranh chấp (BL 104, 408) thì hiện trạng hai thửa đất của hai gia đình nguyên đơn, bị đơn được phân chia ranh giới rõ ràng bằng bức tường xây cao 2m20 do hai gia đình xây từ năm 1999 và 2002.

[5] Mặc dù bản đồ năm 1994 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 774519 do UBND huyện T cấp cho gia đình ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N thể hiện Thửa đất số 12 Tờ bản đồ số 13 của gia đình ông S có diện tích 180m² nhưng như trên đã nêu theo lời khai trên của nguyên, bị đơn thì khoảng năm 1982, các thừa kế của cố V1, cố L đã thoả thuận bằng miệng chia di sản thừa kế của cố V1 và cố L là 01 sào đất = 360m² tại xứ Đầu Voi; theo đó, diện tích đất gia đình ông S được chia tại xứ Đầu Voi là 2 miếng = 72m²; còn cụ V được chia 04 miếng và sau đó mua lại của cụ T5 thêm 04 miếng, tức là cụ V được quyền sử dụng 08 miếng đất = 288m² ở xứ Đầu Voi, gấp 04 lần diện tích đất ông S được chia. Như vậy, việc bản đồ năm 1994 thể hiện diện tích đất nhà ông S tại thửa 12 Tờ bản đồ số 13 là 180m², còn thửa đất của cụ V là thửa số 23 Tờ bản đồ số 13 có diện tích là 248m², sau đó UBND huyện T căn cứ vào bản đồ năm 1994 để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S diện tích đất ở xứ Đầu Voi 180m² là không phù hợp với diện tích đất thực tế các thừa kế của cố V1 cố L đã thoả thuận chia cho nhau năm 1982.

[6] Mặt khác, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn S bà Nguyễn Thị N có trong hồ sơ vụ án thì UBND huyện T không thực hiện việc ký giáp ranh (BL 309), cụ Nguyễn Thị V khi còn sống cũng khai là không được ký giáp ranh khi UBND cấp Giấy cho ông S, trong khi đó trên diện tích đất cấp giấy cho ông S bà N đã có bức tường xây ngăn cách, xác định ranh giới từ năm 1999 do chính nguyên đơn, bị đơn xây.

[7] Như vậy, nguồn gốc đất của hai gia đình nguyên đơn, bị đơn là được chia thừa kế từ di sản của vợ chống cố V1, cố L, từ năm 1982. Việc chia đất bằng miệng, không lập biên bản và gia đình nguyên đơn, bị đơn là những người trực tiếp sử dụng đất, đã xây nhà và xây tường bao phân chia ranh giới rõ ràng giữa hai gia đình. Chính nguyên đơn là người xây tường bao phân chia ranh giới trước, sau đó năm 2002 phía gia đình bị đơn mới tiếp tục xây tường phân chia ranh giới đất giữa hai nhà, tường do gia đình bị đơn (cụ V) xây sát cạnh và chạy song song với tường của phía nguyên đơn (ông S, bà N) xây trước đó. Hiện tại, ranh giới giữa đất của nguyên đơn (ông S, bà N) với đất của gia đình bị đơn (cụ V) là 2 bức tường gạch xây độc lập, liền sát, song song với nhau. Tại phiên toà phúc thẩm, chính nguyên đơn là bà N thừa nhận hiện nay vẫn còn 02 bức tường xây ranh giới giữa hai nhà như đã nêu trên và các đương sự thừa nhận bức tường của gia đình nguyên đơn (ông S) xây trước, bức tường của gia đình bị đơn (cụ V) xây sau. Việc sử dụng đất ổn định, có ranh giới rõ ràng, ranh giới được xác lập trước thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện trạng thực tế sử dụng phù hợp với việc phân chia di sản năm 1982, mà chính nguyên đơn (ông S) cũng khai nhận nội dung phân chia di sản như lời trình bày của bị đơn (cụ V). Việc ông S bà N căn cứ vào bản đồ 1994 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông S bà N năm 2006 để cho rằng gia đình bị đơn (cụ V) lấn đất nhà nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.

[8] Với các căn cứ nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xác định gia đình bị đơn (cụ Nguyễn Thị V, nay là những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ V) không lấn chiếm đất của gia đình nguyên đơn ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N, nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, bà N là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên toà phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của ông S bà N, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[9] Về yêu cầu phản tố của phía bị đơn (gia đình cụ Nguyễn Thị V) về việc huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 774519, số vào sổ 1767/2006/QĐ-UBND/00364, theo Quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 của UBND huyện T cấp, mang tên ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy việc UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S bà N là đúng đối tượng nhưng không đúng về diện tích đất. Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây: d) Giấy chứng nhận đã cấp .... không đúng diện tích đất, ..”. Như vậy, trường hợp này thuộc trường hợp phải thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp lại theo đúng quy định. Tuy nhiên, phía gia đình bị đơn không kháng cáo và xét thấy việc Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm điều chỉnh diện tích đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 774519, số vào sổ 1767/2006/QĐ-UBND/00364, theo Quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 của UBND huyện T cấp, mang tên ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị N theo hiện trạng diện tích đất sử dụng hợp pháp” cũng phù hợp và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử rút kinh nghiệm đối với Toà án cấp sơ thẩm và giữ nguyên bản án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[10] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quyết định:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
  3. Về án phí: ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N mỗi người phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0023783 ngày 19/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
  4. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Nam Thành Trần Thị Quỳnh
Phùng Hải Hiệp

Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND thành phố Hà Nội;
- VKSND thành phố Hà Nội;
- Cục THADS thành phố Hà Nội;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu HSVA, VT, phòng HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp ranh giới đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 110/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới đất; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn Sản và cụ Nguyễn Thị Vân Tranh chấp ranh giới đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger