|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/DS-PT Ngày: 26 - 02 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng giao khoán đất rừng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang
Ông Bùi Minh Thư
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc” Tranh chấp hợp đồng giao khoán đất rừng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐ - PT ngày 05 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 38/2024/QĐ-PT ngày 17/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 43/2024/QĐ-PT ngày 31/12/2024 và Thông báo mở lại phiên toà số 11/TB-TA ngày 12/02/2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Hoàng Xuân V, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
* Bị đơn: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên C1; địa chỉ: Xã H, huyện H- Hà Tĩnh.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thái A- Chức vụ: Trưởng phòng TTBVQS thuộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên C1 – Hà Tĩnh và ông Đậu Viết T – Chức vụ: Trưởng phòng KHXDCB thuộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên C1 – Hà Tĩnh. Có mặt
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh.
- Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh: Bà Phan Thị L – Chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ.Vắng mặt
- - Hạt kiểm lâm huyện V, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện theo uỷ quyền của Hạt kiểm lâm huyện V, tỉnh Hà Tĩnh: Ông Nguyễn Tiến D – Chức vụ: Phó hạt trưởng. Có mặt
* Người kháng cáo: Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Hoàng Xuân V
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 04/3/2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Hoàng Văn H và đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước thông qua Quyết định 661 của Chính phủ “về mục tiêu nhiệm vụ chính sách và tổ chức thực hiện Dự án 5 triệu ha rừng”, năm 2006 gia đình ông Hoàng Văn H trồng, chăm sóc với diện tích 3,9 ha rừng tại Lô E, khoảng 7, tiểu khu A xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh do Công ty C1 (nay là Công ty trách nhiệm Hữu Hạn một thành viên C1, Hà Tĩnh) làm chủ đầu tư. Lô đất tên có tứ cận như sau: Phía đông giáp vườn ông Hoàng Xuân V, phía tây giáp lô số 4, khoảnh 7, tiểu khu A, phía Nam giáp vườn ông Trần Văn N, phía Bắc giáp vườn ông Lê Cảnh Q và vườn ông Nghiêm Chính P.
Từ lúc trồng rừng đến nay gia đình ông thường xuyên chăm sóc và bảo vệ, nhưng năm 2016 Công ty trách nhiệm Hữu Hạn một thành viên C1, Hà Tĩnh công bố đây là rừng của công ty và tranh chấp bắt đầu xảy ra.
Qúa trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn khẳng định qúa trình Công ty TNHH MTV C1 giao cho ông Hoàng Văn H trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng có các hợp đồng giao khoán nhưng hiện tại phía Công ty TNHH MTV C1 đang lưu giữ các hợp đồng giao khoán đó còn phía ông Hoàng Văn H không có bất cứ giấy tờ, tài liệu gì của cơ quan nhà nước xác định về quyền được sử dụng trồng, chăm sóc và bảo vệ đối với khu đất 3,9ha đất tranh chấp trên và trước đây thì ông Hoàng Văn H1 sinh sống tại địa phương ở Thôn B B, xã Đ, huyện V để trực tiếp trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo hợp đồng do phía Công ty TNHH MTV C1 – Hà Tĩnh giao cho ông H nhưng từ khoảng năm 2010 đến nay ông H vào tỉnh Quảng Trị để làm ăn và sinh sống.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:
- - Đề nghị Tòa án buộc công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên C1, H, Hà Tĩnh phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo Điểm b Khoản 2 Điều 14 Quyết định 147 của Chính phủ năm 2007 “ Về chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015".
- - Đề nghị Tòa án tuyên bố các văn bản chấm dứt hợp đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên C1, Hà Tĩnh với ông Hoàng Văn H là vô hiệu.
- - Đề nghị Tòa án yêu cầu công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên C1, H, Hà Tĩnh thừa nhận quyền làm chủ rừng đối với ông Hoàng Văn H theo quy định tại Điều 8 Quyết định 38 của Thủ tướng Chính phủ năm 2016.
- Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày:
Ngày 08/10/2006 Công ty C1 (Nay là Công ty TNHH MTV C1 – Hà Tĩnh) ký kết hợp đồng kinh tế - kỹ thuật thực hiện dự án 5 triệu ha rừng năm 2006 với ông Hoàng Văn H, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh (nay ông Hoàng Văn H cư trú tại địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị). Cùng với việc ký kết hợp đồng trên thì hàng năm (từ năm 2006 – 2009) phía Công ty đều ký Hợp đồng chăm sóc rừng trồng – Dự án trồng mới 5 triệu ha và Biên bản thanh lý hợp đồng giao khoán 5 triệu ha rừng.
Sau khi thanh lý hợp đồng từ năm 2009 đến nay, ông Hoàng Văn H không đồng ý để Công ty TNHH MTV C1 khai thác (T1 + Keo) để Công ty bàn giao đất về cho địa phương. Nay ông Hoàng Văn H khởi kiện vụ ra Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung trên, phía bị đơn cho rằng hoàn toàn không có căn cứ pháp luật bởi căn cứ vào Hợp đồng chăm sóc rừng trồng – Dự án trồng mới 5 triệu ha thì phía Công ty chỉ giao cho ông Hoàng Văn H thực hiện chăm sóc, bảo vệ rừng và đặc biệt hàng năm (từ năm 2006 – 2009) phía Công ty đều lập Biên bản thanh lý hợp đồng giao khoán 5 triệu ha rừng đối với ông Hoàng Văn H và năm 2009 thanh lý hợp đồng hoàn toàn giữa hai bên. Vì vậy, phía bị đơn đề nghị Tòa án bác đơn yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H đồng thời đề nghị Tòa án buộc ông Hoàng Văn H không được thực hiện hành vi cản trở phía Công ty vào khai thác (Thông, K và các loại cây lâm nghiệp khác) tại Lô 5 khoảnh 2a tiểu khu A địa bàn xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh với tổng diện tích 3,9ha.
- Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã Đ trình bày:
Những nội dung khởi kiện của ông Hoàng Văn H là không có cơ sở pháp luật bởi căn cứ vào Hợp đồng chăm sóc rừng trồng – Dự án trồng mới 5 triệu ha thì phía Công ty TNHH MTV C1 chỉ giao cho ông Hoàng Văn H thực hiện chăm sóc, bảo vệ rừng và đặc biệt hàng năm (từ năm 2006 – 2009), kết thúc hàng năm công ty đều lập Biên bản thanh lý hợp đồng giao khoán 5 triệu ha rừng đối với ông Hoàng Văn H và năm 2009 thanh lý hợp đồng hoàn toàn giữa hai bên. UBND xã đề nghị Tòa án bác đơn yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H đồng thời đề nghị Tòa án buộc ông Hoàng Văn H không được thực hiện hành vi cản trở phía Công ty vào khai thác (Thông, K và các loại cây lâm nghiệp khác) tại Lô 5 khoảnh 2a tiểu khu A địa bàn xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh với tổng diện tích 3,9ha.
Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hạt kiểm lâm huyện V trình bày:
Việc ông Hoàng Văn H khởi kiện vụ án dân sự với những nội dung trên là hoàn toàn không có căn cứ theo quy định của pháp luật, bởi theo nội dụng Hợp đồng chăm sóc rừng trồng – Dự án trồng mới 5 triệu ha thì phía Công ty TNHH MTV C1 chỉ giao cho ông Hoàng Văn H thực hiện chăm sóc, bảo vệ rừng và đặc biệt hàng năm (từ năm 2006 – 2009), kết thúc hàng năm công ty đều lập Biên bản thanh lý hợp đồng giao khoán 5 triệu ha rừng đối với ông Hoàng Văn H và năm 2009 thanh lý hợp đồng hoàn toàn giữa hai bên. Mặc dù, Biên bản thanh lý hợp đồng năm 2007 chữ ký trong biên bản là của ông H2 (anh trai của ông Hoàng Văn H), nhưng về bản chất thì không có thay đổi, bởi sang năm 2008 phía Công ty C1 lại ký kết hợp đồng mới với ông H. Trên cơ sở đó Hạt kiểm lâm huyện V đề nghị Tòa án bác đơn yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H đồng thời đề nghị Tòa án buộc ông Hoàng Văn H không được thực hiện hành vi cản trở phía Công ty vào khai thác (Thông, K và các loại cây lâm nghiệp khác) tại Lô 5 khoảnh 2a tiểu khu A địa bàn xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh với tổng diện tích 3,9ha.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST, ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ khoản 10 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 157, 158, 165, 166, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 122,123, 132, 422, 504, 505, 512 Bộ luật dân sự; khoản 9 Điều 2 Luật Lâm nghiệp; khoản 1 và khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Bác toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu nguyên đơn chấm dứt hành vi cản trở việc khai thác, sử dụng rừng tại lô E, khoảnh 7, tiểu khu A (thuộc xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh) của công ty TNHH MTV C1, tỉnh Hà Tĩnh.
Bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 09/9/2024 đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn kháng cáo bản án số 01/2024/DS-ST, ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:
Kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS - ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh và đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, vẫn giữa nguyên đơn nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Đào Xuân V1, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 01/2024/DS - ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn H, ông H khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình do bị ảnh hưởng từ việc chấm dứt hợp đồng giao khoán đất rừng giữa bị đơn với ông H, vì vậy khi thụ lý giải quyết vụ án Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng giao khoán đất rừng” là đúng. Tuy nhiên tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử lại xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”, tại bản án dân sự sơ thẩm, Hội đồng xét xử lại xác định quan hệ tranh chấp là “Yêu cầu được giao khoán đất lâm nghiệp và công nhận chủ rừng” đồng thời xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án nơi bất động sản là không đúng trong việc áp dụng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp như thụ lý ban đầu ở cấp sơ thẩm và thẩm quyền giải quyết vụ án là nơi hợp đồng được thực hiện.
Đơn kháng cáo của nguyên đơn gửi đến Toà án cấp sơ thẩm trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1]. Về nội dung tranh chấp và các yêu cầu của người khởi kiện:
Vào năm 2006, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và của Nhà nước, thông qua Quyết định số 661 của Chính Phủ “Về mục tiêu, nhiệm vụ chính sách và tổ chức thực hiện dự án 5 triệu ha rừng”, Công ty TNHH MTV C1 đã ký kết hợp đồng về việc trồng - chăm sóc - bảo vệ rừng đối với 23 hộ gia đình ở trên địa bàn xã Đ, huyện V, trong đó có hộ ông Hoàng Văn H với diện tích được giao trồng, chăm sóc, bảo vệ là 3,9 ha rừng tại lô E, khoảnh 7, tiểu khu A tại xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh có tứ cận: Phía Đông giáp vườn ông Hoàng Xuân V; phía Tây giáp lô số 4 khoảnh 7 tiểu khu A; phía Nam giáp vườn ông Trần Văn N; Phía Bắc giáp vườn ông Lê Quân C và vườn ông Nghiêm Chính P. Từ năm 2006 đến năm 2009, Công ty C1 ký kết 04 hợp đồng trồng, chăm sóc, bảo vệ với ông Hoàn Văn H3; cuối các năm đều có các biên bản nghiệm thu, thanh lý hợp đồng, thanh toán cụ thể theo từng năm. Từ năm 2010 do cây rừng đã lớn nên Công ty TNHH MTV C1 không còn cần ký kết hợp đồng chăm sóc, bảo vệ nữa nên đã chấm dứt mọi hợp tác với ông H3. Kể từ khi thanh lý hợp đồng giao khoán năm 2009, Công ty C1 đã thanh toán đầy đủ các khoản chi phí theo hợp đồng cho ông Hoàng Văn H, từ năm 2010 đến nay giữa Công ty C1 và ông H không ký kết bất kì hợp đồng nào liên quan đến việc chăm sóc, bảo vệ 3,9 ha rừng tại lô S khoảnh G tiểu khu A thuộc xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh.
Đến năm 2016, khi có chủ trương, Công ty TNHH MTV C1 tiến hành làm các thủ tục để trả lại diện tích đất rừng cho chính quyền địa phương 22/23 hộ gia đình nói trên đã trả lại diện tích rừng đã nhận trồng, chăm sóc, bảo vệ cho Công ty C1, chỉ còn hộ ông Hoàng Văn H không chịu trả lại mà tranh chấp đòi được thừa nhận mình là chủ diện tích đất rừng nói trên. Đồng thời, khi công ty TNHH MTV C1, tỉnh Hà Tĩnh tổ chức lực lượng vào khai thác, xử lý diện tích rừng đã thuê ông H trồng, chăm sóc, bảo vệ nói trên đều gặp phải sự phản đối của hộ ông Hoàng Văn H. Các loại cây trồng trên diện tích rừng này từ năm 2006 đến nay vẫn chưa được tiến hành khai thác lần nào.
Đối với các yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H:
+ Đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc công ty TNHH MTV C1 phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo điểm b khoản 2 Điều 14 Quyết định 147 của Chính phủ năm 2007 “Về chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn năm 2007 – 2015” hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Điểm b khoản 2 Điều 14 Quyết định 147 của Chính Phủ năm 2007 quy định:
“Điều 14. Về đất đai
2. Giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
b) Đối với đất được quy hoạch để trồng rừng sản xuất mà hiện nay do các tổ chức của Nhà nước quản lý nếu chưa có đủ điều kiện để giao đất cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng thì trước khi áp dụng Quyết định này, các tổ chức của Nhà nước phải thực hiện khoán đất lâm nghiệp ổn định lâu dài (50 năm) để các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng sản xuất.”
Diện tích đất rừng đang tranh chấp của Công ty C1 được UBND tỉnh phê duyệt để thực hiện dự án “Đầu tư phát triển rừng”. Để thực hiện dự án trên chủ đầu tư là Công ty C1 phải thực hiện các hợp đồng giao khoán, thuê nhân công trồng rừng, bảo vệ, chăm sóc rừng. Đối với các diện tích rừng được UBND tỉnh phê duyệt để thực hiện dự án không thuộc trường hợp “Chưa đủ điều kiện giao đất cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng...” do vậy Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị buộc bị đơn phải thực hiện việc khoán đất lâm nghiệp ổn định lâu dài cho nguyên đơn là có sơ sở.
+ Đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án yêu cầu công ty TNHH MTV C1 thừa nhận quyền làm chủ rừng đối với ông Hoàng Văn H theo quy định tại Điều 8 Quyết định 38 năm 2016 Thủ tướng Chính phủ Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Tại quyết định số 2017/QĐ/UBND – NL ngày 10/10/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh H về việc phê duyệt dự án đầu tư phát triển rừng Công ty C1 với thời gian thực hiện từ năm 2005 đến năm 2010, Công ty C1 được UBND tỉnh phê duyệt việc thực hiện dự án với diện tích trên 03 địa phận huyện H, V, Đ. Trong quá trình thực hiện dự án ông Hoàng Văn H chỉ được Công ty C1 ký kết thuê trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trên diện tích 3,9 ha chứ không giao 3,9 ha đất rừng cho hộ gia đình ông H để canh tác, sản xuất và quá trình giải quyết vụ án ông Hoàng Văn H cũng không xuất trình được loại giấy tờ gì chứng minh việc Công ty C1 cấp hay giao đất canh tác lâu dài. Vì vậy việc ông H yêu cầu thừa nhận quyền làm chủ rừng của mình theo quy định tại Điều 8 Quyết định 38 năm 2016 Thủ tướng Chính phủ là không có căn cứ. Ngoài ra tại khoản 9 Điều 2 Luật Lâm nghiệp cũng đã quy định rõ vấn đề về chủ rừng và ông Hoàn Văn H3 không thuộc trường hợp quy định tại Luật Lâm Nghiệp nên không thể là chủ rừng.
+ Đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố các văn bản chấm dứt hợp đồng của công ty TNHH MTV C1 với ông H3 là vô hiệu do vi phạm của luật, trái đạo đức xã hội Hội đồng xét xử xét thấy
Đối với các văn bản chấm dứt hợp đồng giữa Công ty C1 và ông H3 được thực hiện trên tinh thần tự nguyện của cả hai bên, ông Hoàng Văn H hoàn toàn thống nhất với các nội dung quy định trong hợp đồng và đã được thanh toán khoản chi phí theo quy định của hợp đồng mà không có ý kiến gì phản đối. Mặc dù, Biên bản thanh lý hợp đồng năm 2007 chữ ký trong biên bản là của ông H2 (anh trai của ông Hoàng Văn H), về bản chất thì không có thay đổi, vì trong biên bản nghiệm thu chăm sóc rừng trồng năm 2007 và danh sách các hộ nhận tiền chăm sóc rừng thuộc chương trình 5 triệu ha năm 2007 thì người ký biên bản đều là ông H; đồng thời sang năm 2008 phía Công ty C1 lại ký kết hợp đồng mới với ông H, ông H không có ý kiến gì về Biên bản thanh lý hợp đồng năm 2007. Đối chiếu với các quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 14 Quyết định số 147 ngày 10/9/2007, Điều 8 Quyết định số 38 ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính Phủ, Hội đồng xét xử nhận thấy không ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của ông Hoàng Văn H. Từ đó, không có căn cứ xác định việc chấm dứt hợp đồng hay các văn bản nghiệm thu, thanh lý chấm dứt hợp đồng giữa ông Hoàng Văn H và Công ty C1 là vi phạm pháp luật hay trái đạo đức xã hội mà dẫn tới vô hiệu.
Ngoài ra ngày 02/01/2025 người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án về việc yêu cầu giám định chữ ký của ông Hoàn Văn H3 trong các văn bản thanh lý hợp đồng năm 2008 và năm 2009. Toà án cấp phúc thẩm đã thông báo cho người đại diện theo uỷ quyền nộp tiền tạm ứng chi phí giám định. Tuy nhiên ngày 08/01/2025 Toà án cấp phúc thẩm nhận được văn bản phản hồi của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn về việc không nộp tiền tạm ứng chi phí giám định. Vì vậy đối với yêu cầu giám định chữ ký theo yêu cầu của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn tại cấp phúc thẩm, toà án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Hoàng Xuân V là không có cơ sở chấp nhận.
[3]. Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Hoàng Xuân V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 01/2024/DS - ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, các Điều 144, 147, 148, 157, 158, 165, 166, Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 122,123, 132, 422, 504, 505, 512 Bộ luật dân sự; khoản 9 Điều 2 Luật Lâm nghiệp; khoản 1 và khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Bác toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu nguyên đơn chấm dứt hành vi cản trở việc khai thác, sử dụng rừng tại lô E, khoảnh 7, tiểu khu A (thuộc xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh) của công ty TNHH MTV C1, tỉnh Hà Tĩnh.
- Về chi phí tố tụng: Buộc nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí hợp đồng dịch vụ về việc trích đo địa chính thửa đất phục vụ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn; cụ thể gồm:
- + Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng)
- + Chi phí hợp đồng dịch vụ về việc trích đo địa chính thửa đất phục vụ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn là 3.038.379 đồng (Ba triệu không trăm ba mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi chín đồng).
- Tổng là 6.538.379 đồng (sáu triệu năm trăm ba mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi chín đồng). Số tiền này người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn đã nộp đủ nên được khấu trừ.
- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003630 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũ Quang.
- Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đã nộp 300.0000 đồng đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0001515 ngày 09/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũ Quang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 10/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hợp đồng giao khoán đất rừng
- Số bản án: 10/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng giao khoán đất rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Hoàng Xuân V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 01/2024/DS - ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
