|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/DS-PT Ngày: 17/02/2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Bà Nguyễn Thị Hân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thao – Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số:51/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 tháng 2024 về việc “Tranh hợp đồng vay tài sản” do có kháng cáo của bị đơn – ông Phạm Văn H đối với bản án số 29/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Vân A, sinh năm 1985 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Phú Hà, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Ngô Anh T và bà Hoàng Thị H1- Luật sư thuộc Công ty L, đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: V, H, A T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. ( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn – chị Trần Thị Vân A trình bày: Từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2023 chị cho anh Phạm Văn H (là bạn học) vay tiền để anh H đảo số tiền vay Ngân hàng cho khách hàng cũng như anh H vay để mua xe ô tô. Việc vay mượn tiền giữa chị và anh H thoả thuận bằng miệng và thông qua các tài khoản, thẻ tín dụng chứ không viết giấy tờ, không có thế chấp và không tính lãi suất. Chị và anh H thoả thuận sau khi chị cho anh H vay tiền khoảng 2-3 ngày thì anh H trả tiền cho chị. Chị đã cho anh H vay thông qua các tài khoản, thẻ tín dụng sau:
- Tài khoản số 4100.1010.9988.89 Trần Thị Vân A- Ngân hàng H5 (MSB); Tài khoản số 4103.1010.0013.48 Trần Thị Vân A- Ngân hàng H5 (M); Thẻ tín dụng số 5324.5145.1005.8165 Trần Thị Vân A- Ngân hàng H5 (M). Chị cho anh H vay tiền trong thẻ tín dụng và đưa thẻ tín dụng cho anh H đi rút tiền tại các điểm giao dịch.
- Tài khoản của Công ty TNHH M1 do chị thành lập và chị thuê giám đốc công ty là anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Chị lấy tiền trong tài khoản của công ty M1 cho anh H vay. Công ty ký Séc giao cho anh H đi rút tiền tại điểm giao dịch ngân hàng. Số tài khoản của công ty: 3407.4102.18586- A2 Chi nhánh huyện H
- Tài khoản số 4100.1010.9840.79- MSB của chị Trần Thị T2, sinh năm 1998; địa chỉ: thôn B, xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tài khoản số 4100.1010.9845.10- MSB của chị Bùi Thị H2, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (chị Vân A nhờ 02 người chuyển khoản cho anh H vay tiền).
Anh H vay và trả tiền chị thông qua các tài khoản của anh H sau đây: Tài khoản số: 888.0912.515.559-MB; Tài khoản số: 0912.515.559-MB; Tài khoản số: 3407.205.373.888-Agribank; Tài khoản số: 3407.207.000.063 - A2. Ngoài ra, anh H còn nhờ tài khoản người khác chuyển trả tiền chị, số tài khoản là 3407.205.010.780-A2
Tổng cộng số tiền chị đã chuyển khoản và giao cho anh H là: 14.500.854.000 đồng (Mười bốn tỷ năm trăm triệu tám trăm năm mươi tư nghìn đồng)
Ngày 25/02/2023 chị và anh H đã chốt số tiền anh H còn nợ chị là 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ năm trăm triệu đồng) bằng Biên bản cuộc họp ngày 25/02/2023. Đến ngày 28/02/2023 anh H đã trả chị 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Như vậy, anh H còn nợ chị số tiền là 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) và hẹn đến ngày 15/3/2023 anh H trả hết tiền cho chị. Tuy nhiên, đến ngày 15/3/2023 anh H không trả tiền mà tiếp tục hẹn chị đến ngày 20/3/2023 mới trả tiền, chị đã đồng ý nhưng đến ngày 20/3/2023 anh H vẫn không trả tiền cho chị.
Nay chị yêu cầu Toà án giải quyết, buộc anh H phải trả chị số tiền còn nợ gốc là 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) và tiền lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 21/3/2023 cho đến khi anh H thanh toán xong khoản nợ.
Bị đơn - anh Phạm Văn H trình bày: Anh xác nhận có vay tiền chị Vân A để làm ăn từ năm 2021 đến năm 2023. Trước ngày 25/02/2023 anh với chị Vân A không có bàn bạc gì về các khoản tiền vay, tiền trả. Ngày 25/02/2023 chị Vân A kéo đông người (có nhiều thanh niên xăm trổ) đến lán trại, trang trại do anh đang quản lý để uy hiếp, đe doạ, ép buộc anh phải ký nhận nợ số tiền 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ năm trăm triệu đồng). Do anh đang là cán bộ, đảng viên sợ bị mất uy tín, sợ ảnh hưởng đến tính mạng của bản thân và gia đình nên bắt buộc anh đã phải ký nhận nợ để giải tán đám đông. Những lần sau anh ký với chị Vân A cũng đều bị ép buộc, không tự nguyện.
Ngày 28/02/2023 anh ký trả chị Vân A số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) do anh bị ép buộc phải trả. Anh đã trao đổi với chị Vân A để hai bên phải ngồi lại tính toán cụ thể số tiền vay, trả với nhau nhưng chị Vân A không đồng ý. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Vân A; anh chỉ xác nhận còn nợ chị Vân A số tiền là 1.529.103.708 đồng (Một tỷ năm trăm hai mươi chín triệu một trăm linh ba nghìn bảy trăm linh tám đồng).
Từ tháng 4/2023 đến nay anh đã làm đơn tố cáo chị Vân A cưỡng đoạt tài sản của anh liên quan đến số tiền anh ký nhận nợ với chị Vân A đến Công an huyện H, tỉnh Thái Bình. Công an huyện H đã có Quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo đơn tố cáo của anh. Vì vậy, anh đã làm đơn khiếu nại lần thứ 2 lên Viện Kiểm sát tỉnh Thái Bình nhưng không đồng ý với trả lời khiếu nại của Viện Kiểm sát tỉnh Thái Bình, anh tiếp tục khiếu nại lên cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đến nay chưa nhận được kết quả. Anh đề nghị đình chỉ vụ án dân sự, chuyển hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra cấp tỉnh để điều tra chị Vân A có hành vi cưỡng đoạt tài sản của anh; đề nghị căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự để tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì “Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án”. Anh đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục triệu tập một số người có liên quan, xác minh tại ngân hàng để giải quyết vụ án công tâm, công bằng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn thống nhất trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để tiếp tục xác minh, thu thập chứng cứ liên quan đến việc thanh toán tiền giữa anh H và chị Vân A, cụ thể: triệu tập bà H3 (là mẹ đẻ chị Vân A) và ông Đ (là bảo vệ công ty của chị Vân A); xác minh với nhân viên ngân hàng về số tiền 425.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm triệu đồng) anh H rút từ ngân hàng để đưa cho chị Vân A trả lương công nhân; thu thập các hợp đồng tín dụng ngày 05/01/2022 và ngày 06/01/2022 của chị Vân A tại ngân hàng; thu thập hồ sơ kế toán thu- chi của công ty chị Vân A tại thời điểm anh H chuyển tiền cho chị Vân A để chị Vân A trả lương cho công nhân. Do chưa làm rõ được mâu thuẫn về số tiền thanh toán giữa anh H và chị Vân A nên người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn không đề xuất với Hội đồng xét xử về đường lối giải quyết vụ án.
Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị Vân A.
- Buộc anh Phạm Văn H phải trả cho chị Trần Thị Vân A số tiền nợ gốc là 2.500.000.000 đồng và 332.692.000 đồng đồng tiền lãi suất tính từ ngày 21/3/2023 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 22/7/2024). Tổng cộng, anh H phải trả chị Vân A số tiền là 2.832.692.000 đồng (Hai tỷ tám trăm ba mươi hai triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ chịu lãi suất cho số tiền phải thi hành, tuyên án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 23/7/2024, anh Phạm Văn H kháng cáo: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, xét xử lại vụ án do nhận định, phán quyết của bản án không phù hợp tính tiết khách quan; vi phạm tố tụng khi không ngừng phiên toà để tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Phạm Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, anh H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chứng cứ anh giao nộp là USB thể hiện việc chị Vân A cùng nhiều người áp đảo làm anh lo sợ dẫn đến việc ký nhận số nợ 2.500.000.000 đồng, thực tế anh chỉ còn nợ 1.529.103.708 đồng. Anh H xác nhận USB anh giao nộp tại phiên tòa đã được sao lưu nhiều bản để gửi Công an huyện H, tuy nhiên công an huyện H đã không khởi tố vụ án hình sự nên anh giao nộp để chứng minh việc anh bị ép ký nợ do lo sợ đến tính mạng.
Chị Trần Thị Vân A trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của anh Phạm Văn H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung,căn cứ vào khoản 1 Điều 308 BLTTDS đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Phạm Văn H làm trong thời hạn kháng cáo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, là kháng cáo hợp lệ, được đưa ra xem xét tại phiên tòa phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là ông Ngô Tuấn A1 và bà Hoàng Thị H1. Căn cứ điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Ngô Tuấn A1 và bà Hoàng Thị H1.
[2] Xét các nội dung kháng cáo của bị đơn – anh Phạm Văn H thì thấy:
Nguyên đơn là chị Trần Thị Vân A khởi kiện yêu cầu bị đơn là anh Phạm Văn H phải trả chị số tiền nợ gốc còn lại là 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) và tiền lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 21/3/2023 cho đến khi anh H thanh toán xong khoản nợ. Chứng cứ chứng mimh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Biên bản cuộc họp ngày 25/02/2023; Biên bản xác nhận số nợ đề ngày 15/3/2023; Bảng tổng hợp và các tài liệu sao kê ngân hàng các khoản tiền chuyển khoản giữa nguyên đơn và bị đơn. Theo Bảng tổng hợp do nguyên đơn xuất trình thì tổng số tiền chị Vân A chuyển cho anh H là 14.500.854.000 đồng (Mười bốn tỷ năm trăm triệu tám trăm năm mươi tư nghìn đồng); anh H đã chốt còn nợ chị Vân A số tiền 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) tại Biên bản xác nhận số nợ đề ngày 15/3/2023.
Về phía bị đơn là anh Phạm Văn H xác nhận có vay tiền và còn nợ chị Vân A nhưng không đồng ý số tiền còn nợ chị Vân A là 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng). Anh H chỉ xác nhận còn nợ chị Vân A số tiền là 1.529.103.708 đồng (Một tỷ năm trăm hai mươi chín triệu một trăm linh ba ngìn bảy trăm linh tám đồng). Chứng cứ anh H xuất trình là một số tài liệu sao kê tài khoản ngân hàng và tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc anh H đã thanh toán cho chị Vân A.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các giao dịch chuyển tiền qua tài khoản và thanh toán cho nhau giữa nguyên đơn và bị đơn diễn ra trong thời gian dài từ năm 2021 đến nay. Các tài liệu, chứng cứ do các bên xuất trình thể hiện rõ dòng tiền chuyển qua tài khoản của hai bên với nhiều nội dung khác như: trả tiền thuê máy, nộp bảo hiểm, nộp thuế, trả tiền lãi ngân hàng, đưa tiền cho chị Vân A thanh toán tiền lương công nhân....và có các giao dịch không có nội dung cụ thể. Anh H chị Vân A xác nhận có quan hệ vay- mượn tiền của nhau thông qua các giao dịch trên, điều này được chứng minh bằng Biên bản cuộc họp ngày 25/02/2023; Biên bản xác nhận số nợ đề ngày 15/3/2023. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các giao dịch, thảo thuận này để đánh giá chứng cứ trong vụ án mà không phải tạm ngừng phiên toà để triệu tập thêm người có liên quan và xác minh, thu thập tài thêm tài liệu, chứng cứ theo đề nghị của phía bị đơn là đủ căn cứ.
Tại Tòa án cấp sơ thẩm, anh H cho rằng anh bị ép buộc ký các biên bản xác nhận số nợ, tại phiên tòa phúc thẩm anh H giao nộp USB đã được trình chiếu hình ảnh cho Hội đồng xét xử, kiểm sát viên và chị Vân A. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại thời điểm ký Biên bản cuộc họp ngày 25/02/2023; Biên bản xác nhận số nợ đề ngày 15/3/2023 đều có người làm chứng ký biên bản. Thời điểm ký biên bản cuộc họp ngày 25/02/2023 còn có mặt cán bộ công an thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình tại địa điểm nơi xảy ra mâu thuẫn giữa chị Vân A và anh H. Những người làm chứng ký trong các biên bản nêu trên gồm chị Trần Thị N, chị Lê Thị Hoài T3, anh Trần Thanh H4 đều khai nhận việc chị Vân A và anh H ký các biên bản giữa các bên hoàn toàn bình thường, không ai có hành động, lời nói xúc phạm, ép buộc nhau. Đồng thời, sau khi ký biên bản cuộc họp ngày 25/02/2023, ngày 28/02/2025 anh H đã thanh toán trả chị Vân A số tiền 2.000.000.000 đồng. Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã có Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 30/QĐ-CQCSĐT ngày 20/10/2023, trong đó có liên quan đến sự việc anh H ký các biên bản trên nhưng không có dấu hiệu ép buộc anh H ký hay không có hành vi cưỡng đoạt tài sản của anh H. Việc anh H khiếu nại Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 30/QĐ-CQCSĐT ngày 20/10/2023 của Công an huyện H không thuộc trường hợp phải tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án theo quy định tại các Điều 214, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chính vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận đề nghị của bị đơn về việc đình chỉ vụ án dân sự, chuyển hồ sơ vụ án dân sự sang cơ quan cảnh sát điều tra để điều tra cũng như tạm đình chỉ giải quyết vụ án để đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án là có căn cứ. Những hình ảnh trong USB anh H giao nộp được xem xét công khai tại phiên tòa phúc thẩm không có có hình ảnh thể hiện anh H bị những người mà anh H cho rằng đó là bạn chị Vân A có hành vi khống chế, đe dọa anh H, không ai có hành động, lời nói xúc phạm, ép buộc anh H. Như vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh H về nội dung này.
Việc anh H cho rằng chỉ còn nợ chị Vân A số tiền là 1.529.103.708 đồng không phải số tiền 2,5 tỷ đồng như chị Vân A yêu cầu vì có 2 khoản tiền chị V anh chuyển vào tài khoản của anh nhưng không phải là tiền vay gồm: khoản 450.000.000 đồng tiền chị Vân A chuyển cho anh là nhờ anh rút tiền mặt về để chị Vân A trả lương công nhân. Tuy nhiên chị Vân A không thừa nhận, anh H không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc anh đưa tiền mặt cho chị Vân A số tiền 450.000.000đồng. Khoản 665.569.946 đồng anh H trả nợ thay cho bà H3 mẹ chị Vân A tại ngân hàng. Tuy nhiên chị Vân A không thừa nhận việc này, anh H không đưa ra được chứng cứ chứng minh chị Vân A chuyển tiền cho anh để anh trả nợ cho mẹ chị Vân A. Xét thấy, việc anh H có trả nợ cho bà H3 - mẹ chị Vân A hay không là quan hệ dân sự giữa anh H với bà H3 không liên quan đến chị Vân A. Anh H có quyền khởi kiện đòi lại tài sản trả nợ cho bà H3 bằng một vụ án dân sự khác. Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ chứng minh chị Vân A đã chuyển cho anh H tổng số tiền là 14.500.000.000 đồng. Hai bên thừa nhận có giao dịch vay mượn giữa hai bên, anh H đã trả là 11.820.327.200 đồng, hiện chưa trả 2.679.673.654 đồng. Chị Vân A thống nhất chốt nợ chỉ yêu cầu anh H trả 2.500.000.000 đồng. Như vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh H về nội dung này.
Việc giải quyết về lãi suất ở cấp sơ thẩm, thì thấy: mặc dù hai bên không thoả thuận lãi suất nhưng đã thoả thuận ngày anh H phải trả tiền chị Vân A là ngày 20/3/2023. Tuy nhiên, đến ngày 20/3/2023 anh H không trả tiền chị Vân A. Nay chị Vân A yêu cầu anh H trả tiền lãi suất 1%/tháng trên số tiền nợ gốc 2.500.000.000 đồng, tính từ ngày 21/3/2023. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự, nên cần chấp nhận một phần yêu cầu tính tiền lãi của nguyên đơn đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất 0,83%/tháng trên số tiền nợ gốc 2.500.000.000 đồng tính từ ngày 21/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/7/2024) là 01 năm 04 tháng 01 ngày, cụ thể số tiền lãi là 332.691.667 đồng- làm tròn số là 332.692.000 đồng (Ba trăm ba mươi hai triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác nhận giữa chị Trần Thị Vân A và anh Phạm Văn H có xác lập giao dịch vay tài sản nhiều lần với số tiền là 2.500.000.000 đồng. Anh H không trả nợ như đã thoả thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Vân A, buộc anh H phải trả cho chị Vân A số tiền nợ gốc là 2.500.000.000 đồng và 332.692.000 đồng đồng tiền lãi suất tính từ ngày 21/3/2023 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 22/7/2024). Tổng cộng, anh H phải trả chị Vân A số tiền là 2.832.692.000 đồng (Hai tỷ tám trăm ba mươi hai triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn đồng) là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ khách quan của vụ án. Anh H kháng cáo song không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Văn H mà cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là phù hợp.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh H không được chấp nhận nên anh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị Vân A.
-
Buộc anh Phạm Văn H phải trả cho chị Trần Thị Vân A số tiền nợ gốc là 2.500.000.000 đồng và 332.692.000 đồng đồng tiền lãi suất tính từ ngày 21/3/2023 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 22/7/2024). Tổng cộng, anh H phải trả chị Vân A số tiền là 2.832.692.000 đồng (Hai tỷ tám trăm ba mươi hai triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7; 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Vân A không phải chịu án phí phí dân sự sơ thẩm. Trả lại chị Trần Thị Vân A số tiền 42.883.000 đồng (Bốn mươi hai triệu tám trăm tám mươi ba nghìn đồng) chị Vân A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003541 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Anh Phạm Văn H phải nộp 88.653.840 đồng - làm tròn số là 88.654.000 đồng (T4 mươi tám triệu sáu trăm năm mươi tư nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai số 0003837 ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 17/02/2025./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 10/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 10/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
