Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/DS-PT

Ngày 15 - 12 - 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Minh.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Nghĩa, bà Điêu Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025, về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Sơn La bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2025/QXXPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QĐ – PT ngày 25 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng C. Địa chỉ: Số A, phố L, phường H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T; chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Lò Thị T1; chức vụ: Giám đốc Phòng C, tỉnh Điện Biên (Văn bản uỷ quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019). Người được uỷ quyền lại: Ông Trần Mạnh T2; chức vụ: Phó giám đốc Phòng C, tỉnh Điện Biên (Văn bản uỷ quyền số 125/QĐ-NHCS ngày 24/10/2024). Địa chỉ: bản H, xã M, tỉnh Điện Biên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  • - Bị đơn: Bà Ngần Thị B. Nơi cư trú: Bản P, xã M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Tòng Văn M, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

  • Người phiên dịch cho bị đơn: Ông Hoàng Văn N. Nơi cư trú: Tổ A, xã N, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

  • - Người kháng cáo: Bị đơn bà Ngần Thị B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • * Nguyên đơn Ngân hàng C trình bày:

    Ngày 17/5/2019, bà Ngần Thị B có vay vốn tại Phòng C, tỉnh Điện Biên (Ngân hàng) số tiền là 30.000.000đ theo chương trình cho vay hộ nghèo, mã vay: 6600000715317584, lãi suất cho vay 6,6%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất khi cho vay là 8,580%/năm, thời gian cho vay: 60 tháng, mục đích vay vốn: Thực hiện phương án mua trâu sinh sản (chăn nuôi trâu). Sau khi nhận tiền vay bà Ngần Thị B đã thực hiện nghĩa vụ trả lãi hàng tháng cho Ngân hàng đúng theo cam kết, nhưng sau ngày 17/10/2019 bà Ngần Thị B đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Đến ngày 17/5/2024, khoản nợ của bà Ngần Thị B đã chuyển sang nợ quá hạn, số tiền 30.000.000đ. Nay Ngân hàng chính sách xã hội khởi kiện buộc bà Ngần Thị B phải trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền là 42.208.357đ trong đó nợ gốc là 30.000.000đ; nợ lãi là 12.208.357đ tính đến ngày 08/9/2025.

  • * Bị đơn bà Ngần Thị B trình bày:

    Năm 2013 bà Ngần Thị B lấy chồng là ông Quàng Văn D tại bản Kéo, xã Ả, huyện M, tỉnh Điện Biên. Quá trình chung sống, chồng bà có vay tiền Ngân hàng chính sách xã hội với số tiền 30.000.000đ; ông D vay cụ thể thời gian nào, sử dụng mục đích gì thì bà B không biết. Đến ngày 12/4/2019, ông D chết. Ngày 17/5/2019, bà Ngần Thị B thừa nhận có được điểm chỉ vào các giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn, sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay, sổ vay vốn và các thủ tục khác trong quá trình làm việc với tổ vay vốn và Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C. Do tổ trưởng tổ vay vốn bà Lò Thị Ọ bảo bà điểm chỉ vì bà B cho rằng điểm chỉ vào các giấy tờ trên để nhận tiền hỗ trợ nuôi con sau khi bố mất là 228.000đ.

    Sau khi chồng bà chết, bà trở về nhà bố mẹ đẻ tại bản Phèn, xã M, tỉnh Sơn La sinh sống. Nay Ngân hàng khởi kiện bà, bà không nhất trí vì bà không được vay, không sử dụng số tiền trên.

  • * Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Sơn La đã xét xử và Quyết định:

    Căn cứ các Điều 117, Điều 118, Điều 280, Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự. Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 85, Điều 86, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.

    Buộc bà Ngần Thị B phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/9/2025) là 42.208.357 đồng (Bốn mươi hai triệu, hai trăm linh tám nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng). Trong đó: nợ gốc

là 30.000.000 đồng; nợ lãi là 12.208.357 đồng (Lãi trong hạn là 8.830.423 đồng, lãi quá hạn là 3.377.934 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo sau ngày xét xử sơ thẩm, bà Ngần Thị B còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất theo quy định như đã cam kết đến khi bà Ngần Thị B thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/9/2025 bị đơn bà Ngần Thị B có đơn kháng cáo, nội dung: Không nhất trí với toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn: Giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, cụ thể: Nội dung hợp đồng giữa hai bên ký kết bà B không biết. Quy trình, trình tự mà phía Ngân hàng cho bà B vay có một bên thứ ba thực hiện không đúng trình tự, làm sai hồ sơ cho vay. Việc bà B được ký vào các văn bản, giấy tờ bằng hình thức điểm chỉ là do bà Lò Thị Ọ đưa cho điểm chỉ, không biết là giấy tờ gì. Bị đơn chưa được tham gia cuộc họp nào về việc vay vốn trên. Hồ sơ được tổ vay vốn lập nhằm che đậy một hồ sơ vay vốn của ông Quàng Văn D nhưng phía Ngân hàng không cung cấp. Việc trả lãi của bà B với Ngân hàng diễn ra là không có cũng như không có sự việc Ngân hàng thông báo nợ quá hạn cho bà B biết. Việc vay nợ có liên quan đến trách nhiệm của các cá nhân khác cần phải được làm rõ.

Quan điểm giải quyết của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hướng giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Ngần Thị B; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Sơn La.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  • [1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng khởi kiện bị đơn bà Ngần Thị B thanh toán dư nợ gốc và lãi phát sinh theo “Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay” đã ký kết. Mục đích vay để thực hiện phương án mua trâu sinh sản, không nhằm mục đích lợi nhuận. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn bà Ngần Thị B có nơi cư trú tại bản P, xã M, tỉnh Sơn La nên Tòa án nhân dân

Khu vực 2 - Sơn La thụ lý, giải quyết vụ án là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025)

  • [2] Xét “Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay” được ký kết giữa Ngân hàng C và bà Ngần Thị B ngày 08/5/2019, bà B đề nghị Ngân hàng cho vay số tiền 30.000.000đ để thực hiện phương án mua trâu sinh sản, thuộc diện chương trình cho vay hộ nghèo có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã. Thời hạn vay 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần. Khoản nợ được Ngân hàng phê duyệt cho vay với lãi suất 6,6%/năm, lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay. “Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay” phù hợp với sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay, thu nợ, dư nợ của Ngân hàng lập. Bà B thừa nhận được điềm chỉ dấu vân tay vào các tài liệu, chứng cứ. Xét giao dịch dân sự được ký kết có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên tham gia giao dịch đều có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, nội dung và mục đích không vi phạm điều cấm, không vi phạm đạo đức xã hội nên giao dịch dân sự phát sinh hiệu lực pháp luật theo quy định.

  • [3] Về quá trình thực hiện hợp đồng: Tại phiếu giải ngân ngày 17/5/2019 của Ngân hàng C thể hiện đã giải ngân cho bà Ngần Thị B số tiền 30.000.000đ; phù hợp với sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay, thu nợ, dư nợ của Ngân hàng đều có điềm chỉ của bà B nên đối với ý kiến của bà B cho rằng không nhận được số tiền 30.000.000₫ Ngân hàng giải ngân là không có căn cứ để chấp nhận. Tại bảng kê thu lãi, thu tiền gửi, thu nợ gốc từ tiền gửi, chi trả hoa hồng và thẻ theo dõi giao dịch tiền vay thể hiện bà Ngần Thị B thực hiện trả lãi hàng tháng qua tổ trưởng tổ vay vốn là bà Lò Thị Ọ từ ngày 17/6/2019 đến ngày 17/10/2019. Sau ngày 17/10/2019, bà Ngần Thị B không trả lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

  • [4] Xét kháng cáo của bà Ngần Thị B đề nghị xem xét đối với khoản vay của ông Quàng Văn D (chồng bà B), Hội đồng xét xử xét thấy: Việc ký kết hợp đồng vay vốn của bà Ngần Thị B với Ngân hàng C không có ông D tham gia, thời điểm bà Ngần Thị B ký kết vay vốn với Ngân hàng thì ông D đã chết nên không có căn cứ để xem xét. Tổ vay vốn thành lập được Ủy ban nhân dân xã C1, hoạt động dựa trên hợp đồng uỷ nhiệm về việc thu lãi, thu tiền gửi và thực hiện một số nội dung công việc khác trong quy trình cho vay của Ngân hàng C nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn về việc Ngân hàng cho vay có một bên thứ ba thực hiện không đúng trình tự, làm sai hồ sơ cho vay.

  • [5] Trong giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay lập ngày 08/5/2019 có ghi nhận: “Thời hạn cho vay 60 tháng;... hạn trả nợ cuối cùng ngày 17/5/2024”. Đến thời hạn trả nợ, bà Ngần Thị B chưa trả được nợ cho Ngân hàng. Do bên vay tài sản vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Ngần Thị B trả số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là có cơ sở, cần chấp nhận.

  • [6] Tại cấp phúc thẩm, bị đơn bà Ngần Thị B không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ mới bổ sung cho đơn kháng cáo.

    Từ những nhận định phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Ngần Thị B; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  • [7] Về án phí phúc thẩm: Bà Ngần Thị B là người dân tộc thiểu số, sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Ngần Thị B. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Sơn La như sau:

  1. Căn cứ các Điều 117, Điều 118, Điều 280, Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 85, Điều 86, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.

    Buộc bị đơn bà Ngần Thị B phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/9/2025) là 42.208.357 đồng (Bốn mươi hai triệu, hai trăm linh tám nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 30.000.000 đồng; Nợ lãi là 12.208.357 đồng (Lãi trong hạn là 8.830.423 đồng, lãi quá hạn là 3.377.934 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo sau ngày xét xử sơ thẩm, bà Ngần Thị B còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất theo quy định như đã cam kết đến khi bà Ngần Thị B thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.

  2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Ngần Thị B.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (15/12/2025).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKS nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - TAND khu vực 2 - Sơn La;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuấn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-PT ngày 15/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 10/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger