TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày 21 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Thư.
Ông Hoàng Đình Như.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 21/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 07/5/2024, đối với các bị cáo:
- Lý Văn D; sinh năm 1991; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 05 tháng 4 năm 2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn V, sinh năm 1972 và con bà: Đặng Thị Đ, sinh năm 1974; có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ: Lý Thị T, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024; tạm giam: Không; Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Lý Văn T1; sinh năm 1994; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 05 tháng 4 năm 2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn T2, sinh năm 1965 và con bà: Mã Thị N, sinh năm 1964; có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ: Nông Thị T3, sinh năm 1998 và có 01 con sinh năm 2022; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024; tạm giam: Không; Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Hoàng Văn T4; sinh năm 1981; nơi sinh: Huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 13 tháng 4 năm 2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T5, sinh năm 1954 và con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án ngày 13/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang xử phạt 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc (chưa được xóa án tích); nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024; tạm giam: Không; Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Sằm Văn C; sinh năm 1992; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 13 tháng 4 năm 2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sằm Văn D1, sinh năm 1961 (đã chết) và con bà: Hoàng Thị L1, sinh năm 1963; có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ con: Không; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024; tạm giam: Không; Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Trần Văn T6; sinh năm 1963; nơi sinh: Huyện P, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 02 tháng 4 năm 2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T7, sinh năm 1939 và con bà: Trần Thị H, sinh năm 1939 (đã chết); có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ: Lý Thị Y, sinh năm 1969 và có 02 con, con thứ nhất sinh năm 1994, con thứ hai sinh năm 2009; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024; tạm giam: Không; Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị G; sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Ban Văn H1; sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 10/01/2024 Lý Văn D đi đến nhà Hoàng Văn T4 thấy Sằm Văn C và Lý Văn T1 đang chơi bi a nên tham gia cùng. Trong khi chơi bi a, D nảy sinh ý đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi sâm nên đã rủ C, T1 tham gia và cả hai đồng ý. Sau đó C đã lấy 01 chiếu nhựa trên giường cạnh bàn bi a và cầm theo 01 bộ bài để trong khay đựng bi a mang vào trong phòng của gia đình T4 bắt đầu đánh bạc. Trong khi đang chơi có Trần Văn T6 đến nhà T4 và thấy ba người đang chơi đánh bạc nên xin tham gia cùng thì mọi người đồng ý. Cùng thời điểm này Hoàng Văn T4 về đến nhà đi xuống khu vực chơi bi a phát hiện Diện, T1, C, T6 đang đánh bạc tại phòng trong quán bi a của gia đình nên đã cùng tham gia đánh bạc. Vị trí ngồi đánh tính theo chiều kim đồng hồ cụ thể như sau: Diện, T1, T6, T4 và C. Quá trình đánh bạc, C mang theo số tiền 1.900.000₫ (Một triệu chín trăm nghìn đồng) và sử dụng số tiền 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) để tham gia đánh bạc; T6 mang theo số tiền 1.140.000đ (Một triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) và sử dụng số tiền 740.000₫ (Bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) để tham gia đánh bạc; T1 sử dụng số tiền 900.000 đ (Chín trăm nghìn đồng); D sử dụng số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng); T4 sử dụng số tiền 1.490.000đ (Một triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) để tham gia đánh bạc. Trong khi các đối tượng đánh bạc thì có ông Ban Văn H1 đến ngồi xem các đối tượng đánh bạc, không tham gia đánh.
Các đối tượng quy định hình thức đánh bạc như sau: Mỗi ván chia mỗi người 10 (Mười) lá bài, ai đánh hết bài trước thì người đó thắng, những người còn lại thua phải trả cho người thắng tương ứng mỗi lá bài còn lại chưa đi được là 5.000đ (Năm nghìn đồng)/lá. Nếu sau khi chia bài xong một trong những người đánh báo S mà những người còn lại không ai bắt được thì người thua cuộc phải trả cho người báo S ván bài đó là 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng)/ người, nếu người báo sâm mà bị người khác bắt được thì người báo sâm đó phải trả cho người bắt được sâm là 400.000 đ (Bốn trăm nghìn đồng). Trong khi đánh người nào không đi được lá bài nào thì gọi là “treo” và phải trả cho người thắng cuộc 80.000 đ (T8 mươi nghìn đồng), nếu người nào bị chặt tứ quý thì phải trả cho người có tứ quý số tiền 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng).
Đến 17 giờ 40 phút cùng ngày khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện B phối hợp với Công an xã Y bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiền 5.530.000 đ (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 chiếu nhựa nhiều màu sắc và một số tang vật có liên quan.
Ngày 12/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 39 gửi phòng K Công an tỉnh H để xác định số tiền 5.530.000₫ (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) và số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ trên người C, số tiền 400.000 đ (Bốn trăm nghìn đồng) thu giữ trên người T6 là tiền thật hay tiền giả.
Tại bản Kết luận giám định số 68/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Toàn bộ số tiền 5.530.000đ (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) và số tiền thu giữ trên người Sằm Văn C1, Trần Văn T6 là tiền thật.
Ngày 27/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp với các ngành chức năng tiến hành cho các bị cáo xác định hiện trường, kết quả các bị cáo chỉ dẫn xác định vị trí ngồi đánh bạc trước khi bị bắt phù hợp với các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung có trong hồ sơ.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định một số đồ vật, tài liệu không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả cho chủ sở hữu gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi màu đen cho Hoàng Văn T4; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO màu vàng và số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cho S1 Văn Công; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme màu xanh cho Lý Văn D; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme màu xanh cho Lý Văn T1; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG màu đen và số tiền 400.000 đ (Bốn trăm nghìn đồng) cho Trần Văn T6.
Số vật chứng chưa xử lý gồm: Tiền Việt Nam 5.530.000 đ (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng); 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếu nhựa nhiều màu sắc, kích thước 1,6x2m (cũ, đã qua sử dụng).
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSBM ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã truy tố D, T1, T4, C1, T6 về tội “Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố: Các bị cáo Lý Văn D, Lý Văn T1, Hoàng Văn T4, Sằm Văn C1 và Trần Văn T6 phạm tội “Đánh bạc”.
- + Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS.
- Xử phạt bị cáo Lý Văn D từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng.
- Xử phạt bị cáo Sằm Văn C1 từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng.
- Xử phạt bị cáo Lý Văn T1 từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T6 từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T4 từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- + Hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự: Không.
- + Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếu nhựa nhiều màu sắc, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam 5.530.000 đ (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
- + Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Mỗi bị cáo Hoàng Văn T4, Trần Văn T6 chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lý Văn D, Lý Văn T1, Sằm Văn C1.
Các bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung thêm gì và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Các bị cáo thực hiện nói lời sau cùng xin HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị G có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt người làm chứng ông Ban Văn H1 không có lý do, tại phiên tòa các bị cáo, Kiểm sát viên đồng ý xét xử; trong hồ sơ cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai nên không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, HĐXX xét xử vắng mặt những người trên.
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan và người tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu, với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 17 giờ 00 phút đến 17 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, tại nhà ở của Hoàng Văn T4 thuộc thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang, Lý Văn D, Lý Văn T1, Hoàng Văn T4, Sằm Văn C1, Trần Văn T6 đã sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền mặt dưới hình thức chơi S thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền thu giữ được là 5.530.000 VNĐ (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng). Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo đã phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khoản 1 Điều 321 BLHS quy định:
“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ...... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
- Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự công cộng và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội nhưng vì mục đích thu lời bất chính vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó cần xử phạt một mức án nghiêm minh nhằm giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.
- Khi quyết định hình phạt, HĐXX cân nhắc, xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo D, T1, C1, T6 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo. Xét các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đều là lao động chính trong gia đình, các bị cáo D, T1, C1 còn thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS và hướng dẫn tại Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đảm bảo răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.
Đối với bị cáo T4 ngày 13/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc đã chấp hành xong thời gian thử thách (nhưng chưa được xóa án tích) nên có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ ông Hoàng Văn T5 tham gia kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng thưởng Huy hiệu chiến sỹ T, trong thời gian phục vụ quân đội bị nhiễm chất độc hóa học, tuổi cao sức khỏe yếu cần có sự chăm sóc của bị cáo, hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình đang chăm sóc bố đẻ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Do đó, HĐXX cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
- Vai trò phạm tội: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, mang tính bột phát, không có người tổ chức, không có sự phân công nhiệm vụ, cấu kết chặt chẽ với nhau khi phạm tội. Tuy các bị cáo đều tham gia với vai trò người thực hành nhưng với mức độ nguy hiểm khác nhau:
Bị cáo D là người khởi xướng rủ rê các bị cáo T1, C1 tham gia đánh bạc, bị cáo C1 tham gia từ đầu và đi lấy bộ tú lơ khơ, rải chiếu để chơi, bị cáo T4 khi thấy mọi người đánh bạc tại nhà mình không nhắc nhở mà còn tham gia đánh bạc sau cùng, ngoài ra bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, ba bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với các bị cáo còn lại.
Các bị cáo T1, T6 đều trực tiếp tham gia đánh bạc nên đều là người thực hành tích cực trong vụ án. Vì vậy cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
- Biện pháp ngăn chặn: Các bị cáo D, T1, C1, T6 bị phạt tù nhưng được hưởng án treo nên không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 125, Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với bị cáo T4 cần tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 123, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội, trả lại cho các chủ sở hữu 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi màu đen; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO màu vàng và số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme màu xanh; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Realme màu xanh; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG màu đen và số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Tiền Việt Nam 5.530.000 VNĐ (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) là số tiền sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài và 01 chiếu nhựa nhiều màu sắc, kích thước 1,6 x 2m là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Trong vụ án có một số hành vi, đối tượng có liên quan:
- [10.1] Đối với Hoàng Văn T4 không ngăn cản mà còn tham gia cùng các bị cáo khác đánh bạc tại nhà ở của gia đình nhưng không thu tiền, không hưởng lợi gì, còn bà Nguyễn Thị G là vợ bị cáo T4 không biết sự việc các bị cáo đánh bạc tại nhà mình và không được hưởng lợi gì từ việc đánh bạc của các bị cáo nên không có căn cứ xử lý về tội Tổ chức đánh bạc, HĐXX không xem xét.
- [10.2] Đối với Ban Văn H1 không tham gia đánh bạc mà chỉ ngồi xem các bị cáo đánh bạc, không được hưởng lợi gì từ việc đánh bạc nên không có cơ sở để xử lý hình sự. Do đó, HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Các bị cáo T4, T6 chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo D, T1, C1 thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và đều có đơn xin miễn án phí, Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị về hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Lý Văn D; Lý Văn T1; Hoàng Văn T4; Sằm Văn Công; Trần Văn T6 phạm tội “ Đánh bạc ”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS.
- Xử phạt bị cáo Lý Văn D 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Sằm Văn C1 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Lý Văn T1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T6 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.
- Giao các bị cáo Lý Văn D, Sằm Văn C1, Lý Văn T1, Trần Văn T6 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Hủy bỏ ngay biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Lý Văn D, Sằm Văn C1, Lý Văn T1, Trần Văn T6.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T4 08 tháng tù, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày10/01/2024 đến ngày 16/01/2024, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn T4 để đảm bảo thi hành án.
- Hình phạt bổ sung: Không.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài (cũ, đã qua sử dụng); 01 (một) chiếu nhựa nhiều màu sắc, kích thước 1,6x2m (cũ, đã qua sử dụng).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam 5.530.000 VNĐ (Năm triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê .
- (Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Mỗi bị cáo Hoàng Văn T4, Trần Văn T6 chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lý Văn D, Lý Văn T1, Sằm Văn C1.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Hoàng Văn Thuận |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn Đ và đồng bọn
