Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 10/2024/KDTM-PT

Ngày 20/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Khương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Toàn

Ông Nguyễn Hoàng Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảo - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11, 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLPT-KDTM ngày 25 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Do Bản án số 09/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H. Địa chỉ: Số B B đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty TNHH Đ. Địa chỉ: Số B ngách D Ngõ G Cầu G, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH Đ: Ông Lý Quốc B. Địa chỉ: Số A đường T, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (được uỷ quyền theo văn bản ngày 17/9/2024). (có mặt)
  • - Bị đơn: Công ty TNHH T1. Địa chỉ: Số Ơ, đường số H, Khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  • Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Tô Quốc B1. Địa chỉ: Số Ơ, đường số H, Khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (là Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty TNHH T1). (vắng mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Kim Xuân M. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
    2. Ông Tô Quốc B1 Địa chỉ: Số Ơ, đường số H, Khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
    3. Ông Tô Văn T, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số Ơ, đường số H, Khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
    4. Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số Ơ, đường số H, Khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  • - Người kháng cáo: Ông Tô Văn T, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được tóm tắt như sau:

- Theo đơn khởi kiện ngày 05/01/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H và trình bày của ông Lý Quốc B:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H (sau đây viết tắt là Ngân hàng) cho Công ty TNHH T1 (sau đây viết tắt là Công ty T1) vay số tiền 1.650.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10532/23MN/HĐTD ngày 18/4/2023 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 10532/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 20/4/2023; thời hạn vay 06 tháng (từ ngày 20/4/2023 đến ngày 20/10/2023); lãi suất 11,5%/năm; mục đích vay là phục vụ hoạt động kinh doanh của Công ty.

Để đảm bảo nợ vay, ông Tô Quốc B1 đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 84 m² tại thửa đất số 3114, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và căn nhà gắn liền với đất có diện tích xây dựng 67,2 m², diện tích sàn 139,4 m², kết cấu tường gạch, 02 vách chung, khung sàn bê tông cốt thép, mái tole, nền gạch, số tầng 2, cấp 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 410762, số vào sổ CH 02805 do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 24/7/2015 cho ông B1 theo hợp đồng thế chấp số 13042/22MN/IDBD ngày 31/3/2022 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, bao gồm công trình xây dựng, cây trồng trên đất và các tài sản khác gắn liền với đất, vật phụ gắn liền với công trình xây dựng, hoa lợi, lợi túc phát sinh từ tài sản trên đất.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán và tính đến ngày 18/6/2024, còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng 1.860.133.351 đồng (gồm nợ gốc 1.649.999.915 đồng, lãi trong hạn 22.354.801 đồng, lãi quá hạn 186.235.265 đồng, lãi chậm trả lãi 1.790.570 đồng)

Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc Công ty T1 phải thanh toán ngay một lần toàn bộ nợ gốc lãi tính đến ngày 18/6/2024 là 1.860.133.351 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
  2. Trường hợp Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 13042/22MN/IDBD ngày 31/3/2022 để thu hồi nợ.

- Ông Tô Văn T trình bày:

Ông Tô Quốc B1 là con Tô Văn T và bà Huỳnh Thị Hvà là Giám đốc Công ty T1. Ông T biết Công ty T1 có vay số tiền 1.650.000.000 đồng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh S và thế chấp tài sản đảm bảo nợ vay.

Ông T cho rằng Ngân hàng áp dụng mức lãi suất 11,5%/năm là quá cao nên đề nghị điều chỉnh lại cho phù hợp và không tính tiền lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi đối với khoản nợ của Công ty T1. Trường hợp Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì ông T đồng ý để Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp và phần công trình phụ chưa được công nhận quyền sở hữu là mái che phía trước có diện tích 10,08m², kết cấu khung sắt, mái lợp tole; mái che phía sau diện tích 4,2m² có kết cấu khung sắt, mái lợp tole để ngân hàng thu hồi nợ.

Ông T yêu cầu Ngân hàng cho thời gian 06 tháng (tính từ ngày 18/6/2024) để tự bán tài sản thế chấp trả nợ cho Ngân hàng, hết thời hạn này mà không bán được thì ông T đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật.

- Bị đơn là Công ty T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Kim Xuân M, ông Tô Quốc B1, bà Huỳnh Thị H: Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các đương sự này không có ý kiến gì trong quá trình giải quyết vụ án.

- Tại Bản án số 09/2024/KDTM-ST ngày 19/6/2024, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định (tóm tắt):

“1. Buộc Công ty TNHH T1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 18/6/2024 là 1.860.133.351 đồng (trong đó: nợ gốc: 1.649.999.915 đồng, lãi trong hạn: 22.354.801 đồng, lãi quá hạn: 186.235.265 đồng, lãi chậm trả lãi: 1.790.570 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm Công ty TNHH T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10532/23MN/HĐTD ngày 18/4/2023 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 10532/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 20/4/2023 cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

Khi án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H có đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH T1 không thanh toán số tiền trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số: 13042/22MN/IDBD ngày 31/3/2022 để thu hồi toàn bộ số tiền còn nợ, gồm:

  • - Quyền sử dụng đất diện tích 84 m² tại thửa đất số 3114, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và tài sản gắn liền trên đất là căn nhà diện tích xây dựng 67,2 m²; diện tích sàn 139,4 m²; Kết cấu: Tường gạch, 2 vách chung, khung sàn bê tông cốt thép, mái tole, nền gạch, số tầng 2; cấp 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 410762, số vào sổ cấp GCN: CH 02805 do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 24/7/2015 cho ông Tô Quốc B1.
  • - Công trình xây dựng chưa được công nhận quyền sở hữu gồm: Phần mái che phía trước diện tích: 2,4m x 4,2m = 10,08m²; kết cấu: Khung sắt, mái lợp tole; mái che phía sau: diện tích: 1,0m x 4,2m = 4,2m²; kết cấu: Khung sắt, mái lợp tole.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền 67.804.000 đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 31.900.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001419 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

3. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH T1 phải chịu số tiền là 950.000 đồng. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H đã tạm ứng trước nên sau khi Công ty TNHH T1 giao nộp thì hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H.”

Ngoài ra, án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.

- Đến ngày 01/7/2024, ông Tô Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:

  • + Điều chỉnh lại mức lãi suất áp dụng cho bị đơn theo hướng không tính tiền lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi.
  • + Xem xét tính kỷ phần cho mỗi thành viên trong hộ gia đình đối với giá trị căn nhà và quyền sử dụng thửa đất 3114, tờ bản đồ số 02, tại Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vì tài sản này thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông Tô Văn T để cho ông Tô Quốc B1 đứng tên.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • + Ngân hàng không rút đơn khởi kiện; ông Tô Văn T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
  • + Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng như sau: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự và các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Tô Văn T, áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, xem xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của ông Tô Văn T được lập và nộp theo đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các Điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, giải quyết trình tự phúc thẩm.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, do Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H đã bán lại toàn bộ khoản nợ của Công ty T1 theo Hợp đồng mua bán nợ số 776.06/2024/HĐMBN/HDB-HCD ngày 27/6/2024 cho Công ty TNHH Đ nên Hội đồng xét xử xác định Công ty TNHH Đ là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn theo quy định tại Điều 365, Điều 368 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Công ty T1, ông Tô Quốc B1, bà Kim Xuân M, bà Huỳnh Thị H vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

[4] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thừa nhận của ông Tô Văn T, căn cứ khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết sau đây là sự thật:

[4.1] Công ty T1 có vay tiền của Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10532/23MN/HĐTD ngày 18/4/2023 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 10532/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 20/4/2023.

[4.2] Tài sản đảm bảo nợ vay là quyền sử dụng đất có diện tích 84m² tại thửa đất số 3114, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và căn nhà trên đất có diện tích xây dựng 67,2m²; diện tích sàn 139,4m²; kết cấu tường gạch, 02 vách chung, khung sàn bê tông cốt thép, mái tole, nền gạch, số tầng 2; cấp 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 410762, số vào sổ CH 02805 do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 24/7/2015 cho ông Tô Quốc B1 và phần công trình phụ (chưa được công nhận quyền sở hữu) gắn liền với nhà là mái che phía trước có diện tích 2,4m x 4,2m = 10,08m²; kết cấu khung sắt, mái lợp tole và mái che phía sau có diện tích 1,0m x 4,2m = 4,2m²; kết cấu khung sắt, mái lợp tole.

[5] Xét kháng cáo của ông Tô Văn T đề nghị không tính tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi đối với khoản vay của Công ty T1:

[5.1] Hội đồng xét xử thấy rằng theo Điều 8, Điều 9 của Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10532/23MN/HĐTD ngày 18/4/2023 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 10532/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 20/4/2023 thì Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng theo thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn và tính đến ngày 18/6/2024,

Công ty còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng 1.860.402.547 đồng, gồm nợ gốc 1.650.000.000 đồng, lãi trong hạn 22.376.712 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi 188.025.835 đồng; Công ty đã thanh toán được tiền gốc 85 đồng, lãi trong hạn 21.911 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi 255.892 đồng; sau khi được điều chỉnh tăng 8.692 đồng thì Công ty còn nợ lại số tiền tổng cộng là 1.860.133.351 đồng (gồm nợ gốc 1.649.999.915 đồng, lãi trong hạn 22.354.801 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi 187.778.635 đồng). Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty trả số tiền còn nợ này là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 17/2017/QH14), khoản 2 Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

[5.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bên có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc lãi nêu trên là Công ty T1 không có kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía Công ty TNHH Đ cũng không đồng ý miễn, giảm hoặc điều chỉnh lại mức lãi suất áp dụng đối với Công ty T1 nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của ông Tô Văn T.

[6] Xét kháng cáo của ông Tô Văn T liên quan đến tài sản thế chấp:

[6.1] Theo đơn kháng cáo, ông Tô Văn T đề nghị xác định kỷ phần của từng thành viên trong hộ gia đình đối với giá trị căn nhà và thửa đất 3114, tờ bản đồ số 02, tại khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Tại phiên toà phúc thẩm, ông T cho rằng đây là tài sản của vợ chồng ông T, bà Huỳnh Thị H và ông Tô Quốc B1, từ đó đề nghị chỉ xử lý đối với tài sản thế chấp là phần giá trị thuộc quyền sở hữu của ông B1 trong nhà, đất này.

[6.2] Hồ sơ vụ án thể hiện quyền sử dụng đất có diện tích 84m² tại thửa đất số 3114, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và căn nhà gắn liền với đất có diện tích xây dựng 67,2m²; diện tích sàn 139,4m²; kết cấu tường gạch, 02 vách chung, khung sàn bê tông cốt thép, mái tole, nền gạch, số tầng 2; cấp 4 là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Tô Quốc B1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 410762, số vào sổ CH 02805 do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 24/7/2015. Do đó, nội dung kháng cáo này của ông T cũng không có căn cứ chấp nhận.

[7] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2024 của Toà án cấp sơ thẩm thể hiện toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên do vợ chồng ông Tô Văn T, bà Huỳnh Thị H đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Để đảm bảo cho việc thi hành án, cấp phúc thẩm bổ sung nội dung buộc các đương sự này có trách nhiệm giao tài sản thế chấp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

[8] Sau khi xét xử sơ thẩm, do khoản nợ trên của Công ty T1 đã được Ngân hàng bán lại cho Công ty TNHH Đ nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cách tuyên cho phù hợp theo hướng buộc Công ty T1 thanh toán nợ cho Công ty TNHH Đ.

[9] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Tô Văn T; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[10] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[11] Ông Tô Văn T phải chịu án phí phúc thẩm do án sơ thẩm được giữ nguyên, nhưng ông T là người cao tuổi và có yêu cầu miễn án phí nên Hội đồng xét xử cho ông T được miễn nộp khoản tiền này theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do ông T đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên không đặt ra xem xét, xử lý khoản tiền này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Tô Văn T.
  2. Giữ nguyên Bản án số 09/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng và phần Quyết định được tuyên lại như sau:
    1. Buộc Công ty TNHH T1 trả cho Công ty TNHH Đ số tiền gốc, lãi còn nợ đến ngày 18/6/2024 là tổng cộng là 1.860.133.351 đồng (gồm 1.649.999.915 đồng gốc, 22.354.801 đồng lãi trong hạn, 187.778.635 đồng lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi).
    2. Kể từ ngày 19/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10532/23MN/HĐTD ngày 18/4/2023 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 10532/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 20/4/2023. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà Công ty TNHH T1 phải tiếp tục thanh toán cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H.

    3. Khi Công ty TNHH Đ có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty TNHH T1 không thanh toán số tiền trên thì Công ty TNHH Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 13042/22MN/IDBD ngày 31/3/2022 để thu hồi toàn bộ số tiền còn nợ, gồm:
      • - Quyền sử dụng đất diện tích 84 m² tại thửa đất số 3114, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và tài sản gắn liền trên đất là căn nhà diện tích xây dựng 67,2 m²; diện tích sàn 139,4 m²; Kết cấu: Tường gạch, 2 vách chung, khung sàn bê tông cốt thép, mái tole, nền gạch, số tầng 2; cấp 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 410762, số vào sổ CH 02805 do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 24/7/2015 cho ông Tô Quốc B1.
      • - Công trình xây dựng chưa được công nhận quyền sở hữu gồm: Phần mái che phía trước diện tích 2,4m x 4,2m = 10,08m²; kết cấu: Khung sắt, mái lợp tole; mái che phía sau: diện tích 1,0m x 4,2m = 4,2m²; kết cấu: Khung sắt, mái lợp tole.
    4. Trường hợp tài sản thế chấp trên bị xử lý thì ông Tô Văn T, bà Huỳnh Thị H có trách nhiệm giao cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ cho Công ty TNHH Đ.
  3. Về án phí và chi phí tố tụng:
    1. Về án phí sơ thẩm:
    2. Công ty TNHH T1 phải chịu số tiền 67.804.000 đồng.

      Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H không phải chịu; trả lại cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H là Công ty TNHH Đ số tiền 31.900.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001419 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.

    3. Về chi phí tố tụng:
    4. Công ty TNHH T1 phải chịu số tiền là 950.000 đồng. Công ty TNHH T1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho Công ty TNHH Đ số tiền này do Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát Triển Thành Phố H đã nộp tạm ứng chi phí này.

    5. Về án phí phúc thẩm: Ông Tô Văn T được miễn nộp.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thành phố Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự, Phòng KTNV&THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vĩnh Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/KDTM-PT ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 10/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger