Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HSST

Ngày 27/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm

có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Sa; Bà Nguyễn Thị Như .

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông: Tòng Văn T - Kiểm sát viên

Ngày 27/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 17/10/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng A V; Giới tính: Nam; Sinh ngày 11/5/1989, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 01/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Vàng A L, sinh năm 1960; và bà Giàng Thị D, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 06 chị, em; bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Giàng Thị M, sinh năm 1990 (đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu trong một vụ án khác); Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2016 (đang ở cùng chú ruột Vàng A C); Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/6/2024, tạm giam từ ngày 02/7/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (Có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện T).

Người làm chứng:

  1. Lò Văn C1, sinh năm 1974
  2. Lò Văn V1, sinh năm 1988.

(Cả hai người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 17/6/2024, tại đoạn đường vành đai thuộc địa phận bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vàng A V mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu trắng) với số tiền 500.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán. Mua được H, Vàng A V mang về nhà tại bản Sắp Ngụa, xã P, huyện T chia thành 03 gói nhỏ (đều được gói bằng mảnh nilon màu hồng). Sau đó, Vàng A V sử dụng hết 01 gói Heroine bằng hình thức hít. Đối với 02 gói Heroine còn lại, Vàng A V gói chung thành 01 gói bằng mảnh ni lon màu trắng, cất giấu dưới đệm trong buồng ngủ của mình không cho ai biết.

Đến khoảng 13 giờ ngày 23/6/2024, khi Vàng A V đang ở nhà thì có Lò Văn C1, sinh năm 1974; cư trú tại bản H, xã T, huyện T và Lò Văn V1, sinh năm 1988; cư trú tại bản O, xã K, huyện T đến nhà gặp V. Chượng trực tiếp hỏi V mua Heroine, V đồng ý. Chượng lấy trong túi quần ra số tiền 300.000 đồng để mua Heroine, V1 đứng bên cạnh đưa cho C1 số tiền 100.000 đồng để góp cùng mua Heroine. C1 cầm tổng số tiền 400.000 đồng đưa cho Vàng A V. Nhận tiền của C1 đưa, V đi vào trong buồng ngủ lấy dưới đệm ra 02 gói Heroine bán cho C1 và Viện. Mua được H, C1 xin V cho C1 và V1 sử dụng Heroine tại nhà của Vàng A V thì được V đồng ý. Chượng lấy 01 gói Heroine ra cùng với Viện và Vàng A V sử dụng bằng hình thức hít. Còn 01 gói Heroine, C1 cất giấu trong túi áo ngực mang về đến đồi thông thuộc địa phận khu G, thị trấn T, huyện T cùng với V1 tiếp tục sử dụng bằng hình thức hít thì bị Công an huyện T lập biên bản vi phạm hành chính hồi 16 giờ cùng ngày, thu giữ 01 mảnh giấy bạc đã than hóa và 01 bật lửa ga màu đỏ.

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vàng A V, Cơ quan điều tra thu giữ của số tiền 400.000 đồng do V bán H cho C1 và Viện mà có.

Kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số tiền 400.000 đồng gửi giám định là tiền thật”.

Vật chứng: Số tiền 400.000 đồng; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu đỏ. Các vật chứng hiện đang được lưu giữ bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 133/CT-VKS ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Vàng A V về hai tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai những người làm chứng Lò Văn C1, Lò Văn V1 phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng A V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 256, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Vàng A V mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng bán trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt của cả hai tội. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng do bán trái phép chất ma túy mà có của Vàng A V. Tịch thu 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 bật lửa ga màu đỏ và 02 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.

Lời nói sau cùng, bị cáo Vàng A V xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Sau khi mua được H, Vàng A V mang Heroine về nhà tại bản S, xã P, huyện T chia 03 gói nhỏ và đã sử dụng hết 01 gói. Đến khoảng 13 giờ ngày 23/6/2024, tại nhà của mình ở bản S, xã P, huyện T, Vàng A V đã cùng một lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho 02 người là Lò Văn C1 và Lò Văn V1 lấy tổng số tiền 400.000 đồng. Ngay sau đó, Vàng A V đã đồng ý cùng một lúc chứa chấp 02 người là Lò Văn C1, Lò Văn V1 sử dụng trái phép Heroine bằng hình thức hít tại nhà thuộc quyền sở hữu của mình. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vàng A V, Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 400.000 đồng do bán Heroine mà có. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 và d khoản 2 Điều 256/Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi bị cáo Vàng A V thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Vàng A V là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích mua trái phép chất ma túy ngoài việc sử dụng cho bản thân, bị cáo còn bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác và tạo điều kiện cho các đối tượng nghiện sử dụng chất ma túy tại nơi ở của mình nhằm thu lời bất chính.

[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vàng A V được sinh ra trong gia đình lao động, nhưng không chịu khó tu dưỡng, làm ăn chân chính mà lại ăn chơi đua đòi, bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Không những vậy, bị cáo còn chứa chấp 02 người sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố các hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có một mức án tương xứng với các hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, khả năng nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế, hoàn cảnh khó khăn do vợ bị cáo đang bị tạm giam. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng A V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp chính là trồng trọt, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khỏa 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng: Đối với số tiền 400.000 đồng, Vàng A V có được do bán trái phép chất ma túy mà có, cần phải tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. 01 bật lửa ga đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá thu giữ của Lò Văn C1, Lò Văn V1 và 02 phong bì niêm phong vật chứng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu đến tiêu huỷ.

[8]. Về vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc H, bị cáo Vàng A V khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn C1 và Lò Văn V1, Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định.

[9]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo đề nghị miễn án phí nên sẽ được miễn án phí HSST.

[10]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 256, Điều 38, Điều 55, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” .
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của cả hai tội là 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2024.
  3. Về vật chứng: Tịch thu 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng) tiền bán trái phép chất mà có của Vàng A V để sung vào ngân sách Nhà nước. Tịch thu 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 bật lửa ga màu đỏ và 02 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ. Vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.
  4. Về án phí: Bị cáo Vàng A V được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan
  • CSĐT Công an huyện Than Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (về tội mua bán trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 10/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vàng A V bán trái phép chất ma tuý cho nhiều người và chứa chấp nhiều người sử dụng trái phép CMT tạin[i ở của mình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger