Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN S

TỈNH KON TUM

Bản án số: 10/2024/HSST

Ngày:17/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Anh Phương.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Bá Tân Anh - Bí thư Đoàn xã Ya Ly, huyện S, Kon Tum.
  2. Ông Đỗ Hiền Lương - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Khánh Lựu - Thư ký Toà án nhân dân huyện S.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:04/2024/HSST ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: A T; sinh ngày 18/10/1996, tại Kon Tum; trú tại: Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Hà Lăng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông A P (đã chết) và bà Y C, sinh năm 1956, trú tại: Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum; bị cáo chưa có vợ, có mặt.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Có mặt.

2. Họ và tên: A L; sinh ngày 01/01/2006, tại Kon Tum; trú tại: Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Hà Lăng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông A T1, sinh năm 1978 và bà Y D, sinh năm 1979, cả hai đều trú tại: Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum; bị cáo chưa có vợ, có mặt.

1

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Có mặt.

3. Họ và tên: A B; sinh ngày 26/9/2002, tại Kon Tum; trú tại: Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Hà Lăng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông A T2, sinh năm 1962 và bà Y R, sinh năm 1972, cả hai đều trú tại: Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum; bị cáo chưa có vợ, có mặt.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: A L: Bà Nguyễn Thúy H - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K - có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh A L1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn Đ, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum. có mặt
  2. Anh A S, sinh năm 2005. Địa chỉ: Thôn Đ, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum. Có mặt
  3. Anh A B1, sinh năm 2002. Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum. Có mặt
  4. Chị Y L2, sinh năm 2001. Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum. Có mặt
  5. Anh Dương Văn T3, sinh năm 1993. Làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum. Có mặt

* Người làm chứng:

Anh A T4, sinh năm 1996, sinh năm 2001. Thôn Đ, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 02/11/2023, A T rủ A L cùng trú tại làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum đi mua ma túy đá về sử dụng, L đồng ý nên cả hai hẹn chiều cùng đi mua. Sau đó L đi nhậu thì gặp A B1 nên L đã rủ B1 sử dụng ma túy đá, B1 trả lời: “Có thì alo anh”. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi gọi điện hỏi T thì L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82B1-669.53 đến nhà T. Trong lúc đợi

2

L đến, T liên lạc với người đàn ông tên H1 qua ứng dụng mạng xã hội M để hỏi mua ma túy, sau khi thỏa thuận T đồng ý mua ma túy với số tiền 400.000 đồng, H1 và T hẹn địa điểm lấy ma túy. Khi L đến nơi, T nói L chở đi cầm cố điện thoại của mình để mua ma túy. L đồng ý nên đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 82B1-669.53 chở T đến tiệm cầm đồ của anh Dương Văn T3 tại làng R, xã R, huyện S, tại đây T vào cầm cố điện thoại di động Realme 500.000 đồng. Sau khi quay lại chỗ L, T nói mình cắm điện thoại 500.000 đồng trong vòng 10 ngày, khi nào lấy điện thoại thì L cùng phụ tiền để lấy, L đồng ý.

Tuyn nói L chở đến Trạm bảo vệ rừng Đ, xã R, khi qua trạm được khoảng 500m thì gặp H1. H1 đưa cho T 02 (Hai) tép ma tuý đá và 01 (Một) nồi (một bộ phận của bộ D1 sử dụng ma túy đá, gồm 01 (Một) nỏ thuỷ tinh và 01 (Một) ống hút nhựa được gắn sẵn vào nắp chai nhựa – được bọc bên ngoài bằng khẩu trang y tế màu xanh), T đưa H1 400.000 đồng. Sau khi mua ma túy, T nói L chở mình về nhà A B tại làng R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum, tới nơi T vào phòng ngủ của B cất “Nồi” trên nóc tủ quần áo, lúc này B đang xem tivi tại phòng khách, thấy T cầm bọc khẩu trang y tế màu xanh, bên trong có nỏ thủy tinh (B biết là dụng cụ sử dụng ma túy đá) vào phòng ngủ của mình nhưng vì T và B là bạn thân nên B không nói gì. Sau khi cất “Nồi” xong, T về nhà tắm rồi đến nhà A T5 tại làng R, xã R, huyện S để nhậu thì gặp L và A L1 cùng đang ngồi nhậu tại đây, trong lúc nhậu, khi đi vệ sinh thì T cho L1 xem tép ma túy đá nên L1 xin đi cùng, T đồng ý. Ngồi nhậu tại Thíp một lúc thì T, L, L1 nghỉ và cùng đến nhà B.

Sau khi đến nơi, T, L ở lại nhà B còn L1 quay về lấy điện thoại thì A T4 nhờ chở đi lấy điện thoại đang sửa, L1 chở T4 đi nhưng điện thoại chưa sửa xong nên L1 rủ T4 đến nhà B nhậu, T4 đồng ý. Trong lúc này, L cũng nhắn tin nói B1 đến nhà B để sử dụng ma túy, một lúc sau thì L1, T4, B1 tới nhà B. Khi mọi người đang ở đây, T rủ B sử dụng ma túy, B trả lời có thì T hỏi B sử dụng ma túy tại nhà B được không, B không đồng ý vì bố mẹ B vừa đi làm về. Nghe vậy nên T nói với mọi người (Lông, B, L1, T4, B1) ra chỗ bờ suối mọi người hay nhậu để sử dụng. Lúc này, B1 điều khiển xe mô tô không có BKS, nhãn hiệu SUZUKI, loại SATRIA, màu xanh đen chở T; L điều khiển xe BKS: 82B1-669.53 chở B đi ra bờ suối; còn T4 không muốn sử dụng ma túy nên đã nói L chở mình về nhà, L1 điều khiển xe mô tô BKS: 82B2-092.81 chở Thuê về, tuy nhiên trên đường đi L1 nói qua bờ suối chơi một lúc rồi về nhậu, T4 đồng ý nên L1 chở T4 đến bờ suối.

Khi tới nơi, T phát hiện quên “Nồi” nên chỉ cho B chỗ cất và nói L chở B về lấy, T còn nói cả hai đi tìm chai nhựa (thường gọi là “Thùng” dùng để gắn vào “Nồi” thành dụng cụ sử dụng ma túy). Lông điều khiển xe mô tô BKS: 82B1-669.53 chở B về nhà, tới nơi B vào phòng ngủ lấy “Nồi” rồi quay ra đi tìm chai nhựa, khi ra

3

đến phòng khách thì thấy L đang cất 01 (Một) cái kéo vào túi, L tiếp tục cầm chai nhựa đang để góc phòng khách lên hỏi B: “Có được không?”, B thấy chai nước gắn vừa với “Nồi” mình đang cầm nên trả lời được; L uống hết nước trong chai, bỏ chai vào túi quần rồi chở B quay lại chỗ hẹn. Khi đến nơi, L ra suối lấy nước vào chai nhựa rồi đưa cho T, T cầm chai nhựa và “Nồi” gắn lại với nhau để thành dụng cụ sử dụng ma túy, tiếp đó T lấy 02 (Hai) bì ni long ma túy để xuống đất, L và T mỗi người dùng kéo cắt 01 (Một) túi ni long chứa ma túy bỏ vào ống thủy tinh. Chuẩn bị xong T dùng bật lửa hơ đốt và sử dụng ma túy rồi vừa dùng bật lửa hơ đưa lần lượt cho L, T4, L1, B1, B hút (Thuê không sử dụng nên không hút mà đưa sang cho L1, B1 thấy ma túy ít nên cũng không sử dụng mà đưa sang cho B sử dụng). Khi B vừa sử dụng xong thì bị bắt quả tang, Công an xã R đã tiến hành niêm phong: 01 (Một) nắp chai nhựa màu vàng, mặt trên của nắp được đục 02 (Hai) lỗ tròn, trong đó 01 (Một) lỗ cắm ống nhựa màu trắng, quấn băng keo đen, lỗ còn lại cắm ống thủy tinh, một đầu ống thủy tinh hình cầu, có lỗ hở bên trên, bên trong phần hình cầu bám dính chất rắn màu vàng đục, đầu còn lại của ống thủy tinh được gắn với một ống nhựa màu trắng được hàn kín ở cuối ống và bị cắt hở 02 (Hai) lỗ ở gần cuối ống; thu giữ 03 (Ba) điện thoại di động, 03 (Ba) xe mô tô, 01 (Một) bật lửa màu đỏ.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng Test phát hiện nhanh ma tuý trong nước tiểu, ký hiệu MDT 6.1 do V cấp. Kết quả:

  • - A T, A B, A L dương tính với ma tuý loại Methamphetamine và loại A; A L1 dương tính với ma tuý loại Methamphetamine;
  • - A T4, A B1 âm tính với chất ma tuý.

Ngày 03/11/2023, Trung tâm y tế huyện S xét nghiệm A T, A B, A L, A L1, A T4, A B1. Kết quả:

  • - A T, A B, A L dương tính với ma tuý loại Methamphetamine và loại A; A L1 dương tính với ma tuý loại Methamphetamine;
  • - A T4, A B1 âm tính với chất ma tuý.

Kết luận giám định số 309/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Mẫu chất rắn màu vàng đục được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2.2107589 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,073 gam.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

4

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: A T rủ A L đi mua ma túy về sử dụng, tại thời điểm thực hiện tội phạm, A L chưa đủ 18 tuổi nên A T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu:

  • 01 (Một) nắp chai nhựa màu vàng, mặt trên của nắp được đục 02 (Hai) lỗ tròn; trong đó: 01 (Một) lỗ cắm 01 (Một) ống nhựa màu trắng, quấn băng keo đen; 01 (Một) lỗ cắm 01 (Một) ống thủy tinh hình cầu có lỗ hở bên trên, bên trong phần hình cầu có bám dính chất rắn màu vàng, đầu còn lại của ống thủy tinh được gắn với 01 (Một) ống nhựa màu trắng được hàn kín ở cuối ống và bị cắt hở 02 (Hai) lỗ ở gần cuối ống. Tất cả đồ vật trên được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2.2107589.
  • 01 (Một) chai nhựa trong suốt (dạng chai nước), trên cổ chai có một vòng nhựa màu vàng (của A L);
  • 01 (Một) bật lửa màu đỏ bằng nhựa, mặt ngoài có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT” được in màu đen (của A T);
  • 01 (Một) xe mô tô BKS 82B1-669.53, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu hồng (của Y L2 – chị ruột của A L);
  • 01 (Một) xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu SUZUKI, loại SATRIA, màu xanh đen (của A B1);
  • 01 (Một) xe mô tô BKS 82B2-092.81, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu đen (của A S – em trai A L1);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REDMI, mặt sau màu xám đen (của A L);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REALME, mặt sau màu đen (của A T);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, mặt sau màu đen (của A L1);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu VSMART, mặt sau màu xanh (của A B);
  • 01 (Một) cái kèo dài 13cm, rộng 05cm; có cán kéo màu cam đen, bằng nhựa; đầu kéo bằng kim loại (của A B);

- Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S xử lý:

Đối với 03 (Ba) xe mô tô bị thu giữ, kết quả điều tra xác định thời điểm các bị can sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, chủ sở hữu hợp pháp không biết.

5

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại 03 xe mô tô trên theo quy định của pháp luật.

Nhập kho vật chứng:

  • 01 (Một) nắp chai nhựa màu vàng, mặt trên của nắp được đục 02 (Hai) lỗ tròn; 01 (Một) ống nhựa màu trắng, quấn băng keo đen; 01 (Một) ống thủy tinh hình cầu có lỗ hở bên trên; 01 (Một) ống nhựa màu trắng được hàn kín ở cuối ống và bị cắt hở 02 (Hai) lỗ ở gần cuối ống; 01 (Một) túi niêm phong đựng mẫu vật gửi giám định; Mẫu vật còn lại đựng trong 01 (Một) túi ni lông có khối lượng đã trừ bì là 0,07 gam. Tất cả được niêm phong trong 01 (Một) phong bì niêm phong: Mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 309/KL-KTHS”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM".
  • 01 (Một) chai nhựa trong suốt (dạng chai nước), trên cổ chai có một vòng nhựa màu vàng (của A L);
  • 01 (Một) bật lửa màu đỏ bằng nhựa, mặt ngoài có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT” được in màu đen (của A T);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REDMI, mặt sau màu xám đen (của A L);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REALME, mặt sau màu đen (của A T);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, mặt sau màu đen (của A L1);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu VSMART, mặt sau màu xanh (của A B);
  • 01 (Một) cái kèo dài 13cm, rộng 05cm; có cán kéo màu cam đen, bằng nhựa; đầu kéo bằng kim loại (của A B);

- Về dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa anh T3 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này. Vì vậy đề nghị HĐXX không xem xét.

Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và nội dung vụ án đã nêu trên.

Cáo trạng số: 05/CT - VKS (05/CT-VKSST) ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố các bị cáo A T, A L, A B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ

6

sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện VKS (Viện kiểm sát) vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

* Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"

* Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38 và Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Bộ luật Hình sự đối với bị cáo A T: xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 8 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề nông, công việc và thu nhập không ổn định đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38 và Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình Hình sự đối với bị cáo A B: xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề nông, công việc và thu nhập không ổn định đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo A L: xử phạt bị cáo từ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REDMI, mặt sau màu xám đen (của A L);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REALME, mặt sau màu đen (của A T);

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (Một) nắp chai nhựa màu vàng, mặt trên của nắp được đục 02 (Hai) lỗ tròn; trong đó: 01 (Một) lỗ cắm 01 (Một) ống nhựa màu trắng, quấn băng keo đen; 01 (Một) lỗ cắm 01 (Một) ống thủy tinh hình cầu có lỗ hở bên trên, bên trong phần hình cầu có bám dính chất rắn màu vàng, đầu còn lại của ống thủy tinh được gắn với 01 (Một) ống nhựa màu trắng được hàn kín ở cuối ống và bị cắt hở 02 (Hai) lỗ ở gần

7

cuối ống. Tất cả đồ vật trên được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2.2107589.

  • 01 (Một) chai nhựa trong suốt (dạng chai nước), trên cổ chai có một vòng nhựa màu vàng (của A L);
  • 01 (Một) bật lửa màu đỏ bằng nhựa, mặt ngoài có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT” được in màu đen (của A T);
  • 01 (Một) cái kèo dài 13cm, rộng 05cm; có cán kéo màu cam đen, bằng nhựa; đầu kéo bằng kim loại (của A B);

- Trả lại: 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, mặt sau màu đen cho A L1; 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu VSMART, mặt sau màu xanh cho A B.

* Người bào chữa cho bị cáo A L: Bà Nguyễn Thúy H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với tội danh và điều luật truy tố bị cáo, cũng hoàn toàn thống nhất với tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã áp dụng cho bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo phạm tội tại thời điểm chưa đủ 18 tuổi, bị cáo không có không tiền án tiền sự, bị cáo có ông N và ông N1 là người có công với Cách M1, ngoài ra tôi đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ ( Phạm tội do lạc hậu ) quy định tại điểm m, khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với người dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự với mức hình phạt là 04 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Các Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố

8

tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã đủ cơ sở để khẳng định:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 02/11/2023, tại khu vực bờ suối thuộc thôn R, xã R, huyện S, tỉnh Kon Tum, A T có hành vi cung cấp chất ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy cho A L, A B, A L1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy; A L có hành vi cùng A T đi mua ma túy, chở A B về nhà để lấy dụng cụ sử dụng ma túy cho A T, A B, A L1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy; A B có hành vi giúp A T về nhà lấy và tìm dụng cụ để sử dụng ma túy cho A T, A L, A L1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy.

[3] Về vai trò: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, phân công, bàn bạc nhau từ trước. Tuy nhiên trong vụ án này thì vai trò, mức độ tham gia của từng bị cáo là khác nhau, nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để có cơ sở cho việc quyết định hình phạt phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất mức độ thì A T là người chủ mưu, rủ rê các bị cáo khác cùng sử dụng ma túy; thể hiện. Để có tiền và có ma túy, bị cáo trực tiếp dùng điện thoại của mình liên hệ với người bán ma túy và đem điện thoại của mình đến tiệm cầm đồ để cầm lấy tiền mua ma túy, khi có được ma túy, bị cáo cũng là người chọn địa điểm để sử dụng ma túy nên xác định bị cáo có vai trò cao nhất. Bị cáo A L với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực thể hiện khi L được T rủ đi mua ma túy về sử dụng thì L đồng ý ngay, L đã chở T đến hiệu cầm đồ, chở T đi đến địa điểm mua ma túy, chở B về nhà B để lấy dụng cụ sử dụng ma túy và rủ B1 cùng tham gia còn A B tham gia với vai trò giúp sức thứ yếu trong vụ án; thể hiện. Khi các bị cáo ra đến bờ suối thì T phát hiện quên dụng cụ sử dụng ma túy ở nhà B, nên T chỉ cho B chỗ cất dấu, T nói L chở B về lấy, khi về đến nhà, B vào phòng ngủ lấy “Nồi” rồi quay ra tìm chai nhựa, khi được L hỏi chai này “có được không” thì B nói được và cả hai quay lại chỗ hẹn nên xác định A L có vai trò thứ hai, còn A B có vai trò thứ ba trong vụ án. Vì vậy: cần phải xử lý thật nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên tại thời điểm A L thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo L chưa đủ 18 tuổi, là người chưa thành niên, nhận thức về hành vi phạm tội còn hạn chế nên mức hình phạt được xem xét áp dụng theo quy định tại Điều 90, 91, 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự.

9

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm tới trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống hàng ngày của nhân dân trên địa bàn huyện. Các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức để biết được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà còn làm phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi nêu trên của ba bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" thuộc trường hợp “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[5.1] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng:

  • Bị cáo A T phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS (trách nhiệm hình sự) “Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Các bị cáo A L và A B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình để các cơ quan tiến hành tố tụng nhanh chóng kết thúc vụ án, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51. Ngoài ra các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.

Bị cáo A L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (bị cáo có ông N và ông N1 là người có công với Cách mạng).

Bị cáo A T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (bị cáo có bố đẻ là Bệnh binh hạng 61%, là người có công với nước).

[6] Đối với người thanh niên tên H1: Tuyn liên lạc với người thanh niên trên thông qua ứng dụng Messenger của mạng xã hội Facebook có tên đăng nhập là H2, qua quá trình kiểm tra điện thoại không xác định được tài khoản nào có tên H2, ngoài lời khai của T thì chưa có căn cứ nào khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

10

[7] Đối với A L1 là người được A T cho sử dụng trái phép chất ma tuý (Kết quả xét nghiệm: dương tính với ma tuý loại Methamphetamine), A L1 không có hành vi giúp cho A T chuẩn bị ma tuý và công cụ sử dụng ma tuý. Ngày 31/01/2024, Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1, điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình là đúng với quy định của pháp luật.

[8] Đối với A T4 và A B1: Không sử dụng ma túy (Kết quả xét nghiệm: âm tính với chất ma tuý), không có hành vi giúp cho T chuẩn bị ma tuý và công cụ sử dụng ma tuý. Vì vậy không có cơ sở để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự, không xử phạt vi phạm hành chính đối với A T4, A B1.

[9] Đối với các thanh niên cho A T, A L sử dụng ma túy tại xã M, huyện S và các thanh niên cho A L, A B1 sử dụng ma túy tại huyện N, tỉnh Kon Tum: Ngoài lời khai của bị cáo thì chưa có căn cứ nào khác để xác định nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S sẽ tiếp tục điều tra và xử lý sau.

[10] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo nghề nghiệp làm nông, không có công việc và thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[11] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) mà anh Dương Văn T3 đã bỏ ra để cầm cố chiếc điện thoại của A T. Quá trình điều tra và tại phiên tòa anh T3 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này và bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác. HĐXX xét thấy yêu cầu của anh T3 là tự nguyện và đúng quy định pháp luật nên chấp nhận, không buộc bị cáo phải trả số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) cho anh T3.

[12] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (Một) xe mô tô BKS 82B1-669.53, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu hồng (của Y L2 - chị ruột của A L);
  • 01 (Một) xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu SUZUKI, loại SATRIA, màu xanh đen (của A B1);
  • 01 (Một) xe mô tô BKS 82B2-092.81, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu đen (của A S - em trai A L1);

11

- Đối với 03 chiếc xe mô tô bị thu dữ ở trên, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S xác định việc các bị cáo sử dụng xe mô tô thì chủ sở hữu hoàn toàn không biết. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên HĐXX không đề cập đến.

* Đối với các vật chứng:

  • 01 (Một) nắp chai nhựa màu vàng, mặt trên của nắp được đục 02 (Hai) lỗ tròn; 01 (Một) ống nhựa màu trắng, quấn băng keo đen; 01 (Một) ống thủy tinh hình cầu có lỗ hở bên trên; 01 (Một) ống nhựa màu trắng được hàn kín ở cuối ống và bị cắt hở 02 (Hai) lỗ ở gần cuối ống; 01 (Một) túi niêm phong đựng mẫu vật gửi giám định; Mẫu vật còn lại đựng trong 01 (Một) túi ni lông có khối lượng đã trừ bì là 0,07 gam. Tất cả được niêm phong trong 01 (Một) phong bì niêm phong: Mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 309/KL-KTHS”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM”.
  • 01 (Một) chai nhựa trong suốt (dạng chai nước), trên cổ chai có một vòng nhựa màu vàng (của A L);
  • 01 (Một) bật lửa màu đỏ bằng nhựa, mặt ngoài có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT” được in màu đen (của A T);
  • 01 (Một) cái kèo dài 13cm, rộng 05cm; có cán kéo màu cam đen, bằng nhựa; đầu kéo bằng kim loại (của A B);

Xét thấy đây là các vật chứng dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng và thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Tịch thu xung quỹ

  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REALME, mặt sau màu đen (của A T);
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REDMI, mặt sau màu xám đen (của A L);

- Trả lại cho A L1 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, mặt sau màu đen;

- Trả lại cho A B 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu VSMART, mặt sau màu xanh;

12

[13] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S trình bày lời luận tội và đề nghị áp dụng điều luật, về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[14] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo A L được hưởng tình tiết giảm nhẹ (Phạm tội do lạc hậu) quy định tại điểm m, khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX không chấp nhận vì: Bị cáo có trình độ văn hóa 6/12, điều kiện sinh sống của bị cáo không phải ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, còn nặng nề về hủ tục, do mê tín dị đoan, không hiểu biết về pháp luật và mọi xử sự trong đời sống trong khu dân cư đều theo phong tục, tập quán, tín ngưỡng.

[15] Về án phí: Các bị cáo có đơn xin miễn án phí và thuộc hộ nghèo. Vì vậy miễn án phí HSST cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo A T, A L, A B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo A T.
  • Xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/11/2023.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38 và Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự đối với bị cáo A B.
  • Xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/11/2023.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 90, 91, 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo A L.
  • Xử phạt bị cáo 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/11/2023.

2. Về hình phạt bổ sung:

không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

13

  • 01 (Một) nắp chai nhựa màu vàng, mặt trên của nắp được đục 02 (Hai) lỗ tròn; 01 (Một) ống nhựa màu trắng, quấn băng keo đen; 01 (Một) ống thủy tinh hình cầu có lỗ hở bên trên; 01 (Một) ống nhựa màu trắng được hàn kín ở cuối ống và bị cắt hở 02 (Hai) lỗ ở gần cuối ống; 01 (Một) túi niêm phong đựng mẫu vật gửi giám định; Mẫu vật còn lại đựng trong 01 (Một) túi ni lông có khối lượng đã trừ bì là 0,07 gam. Tất cả được niêm phong trong 01 (Một) phong bì niêm phong: Mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM - PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 309/KL - KTHS”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM".
  • 01 (Một) chai nhựa trong suốt (dạng chai nước), trên cổ chai có một vòng nhựa màu vàng (của A L);
  • 01 (Một) bật lửa màu đỏ bằng nhựa, mặt ngoài có dòng chữ “555 VIP HOA VIỆT” được in màu đen (của A T);
  • 01 (Một) cái kèo dài 13cm, rộng 05cm; có cán kéo màu cam đen, bằng nhựa; đầu kéo bằng kim loại (của A B);

* Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REALME, mặt sau màu đen;
  • 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu REDMI, mặt sau màu xám đen;

- Trả lại cho A L1 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, mặt sau màu đen;

- Trả lại cho A B 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu VSMART, mặt sau màu xanh;

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.

5. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Miễn án phí hình sự cho các bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/5/2024).

14

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH KON TUM về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Các bị cáo A T, A L, A B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger