Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 10/2024/HS-ST-CTN

Ngày 12-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Thanh Tâm – Cán bộ hưu trí;
  2. Bà Nguyễn Kim Hậu – Thanh tra viên Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Thuận Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS-CTN ngày 05 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 03/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024; đối bị cáo:

  • - Trần Văn H, sinh ngày 14-9-2006, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P, sinh năm 1980 (đã chết) và bà Lê Hồng H1, sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam ngày 26-8-2023 cho đến nay; có mặt.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Lê Hồng H1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; là mẹ của bị cáo; có mặt.
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Sơn T, Trợ giúp viên pháp lý; thuộc Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.
  • - Bị hại:
    • + Anh Phạm Của T1, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số A, đường X, phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; có mặt.
    • + Ông Lê Thanh D, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
    • + Anh Đinh Hoàng G, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số A, đường N, Phường A, Quận E, Thành Phố Hồ Chí Minh; có mặt.
    • + Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981, anh Tạ Duy L, sinh năm 1977; nơi cư trú: 137 B, ấp K, thị trấn T, huyện C, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp nên bị cáo Trần Văn H nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài. Từ tháng 02/2023 đến tháng 7/2023, bị cáo đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 13-6-2023, bị cáo H cùng Phạm Của T1, Nguyễn Anh H2, sinh năm 2004, ngụ số A, đường P, Phường B, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Lê Hồng T3, sinh năm 2004, ngụ số A, đường V, Phường A Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Huỳnh Ngọc Q, sinh năm 2002, ngụ số E, đường T, Phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến nhà nghỉ “Nhiếm Biển” tại số A, đường H, Phường B, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuê phòng số 101 để lưu trú. Tại đây, cả nhóm uống bia đến 02 giờ 30 phút ngày 14-6-2023 thì đi ngủ; đến khoảng 5 giờ 30 phút, bị cáo H thức dậy nhìn thấy chùm chia khoá xe của anh Phạm C Thiệt để trên bàn nên nãy sinh ý định lấy chùm chìa khoá xuống nhà để xe, mở cốp yên xe của anh T3 tìm tài sản lấy trộm. Lợi dụng nhóm của anh T3 đang còn ngủ, bị cáo H đi xuống nhà để xe, lấy chiều khoá xe mở cốp yên xe biển số 68N1-292.30 của anh T3; bên trong có 01 thẻ ATM Ngân hàng V, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Của T1 và tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Bị cáo H lấy thẻ ATM và số tiền 500.000 đồng bỏ vào túi áo; bị cáo cầm thẻ căn cước công dân của anh T1 lên xem để nhớ ngày tháng năm sinh mục đích để lấy căn cứ nhập mật khẩu thẻ ATM của anh T1 để rút tiền; rồi bỏ vào ví da, bỏ lại cốp yên xe. Sau đó, bị cáo quay lại phòng nghỉ 101, để chùm chìa khoá lại vị trí cũ rồi lên giường ngủ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, cả nhóm trả phòng, chia tay. Bị cáo đi đến trụ ATM tại khu vực Thành Phố V, đưa thẻ ATM của T1 vào máy rồi nhập số mật khẩu theo ngày tháng năm sinh của T1 là “612004” và máy đăng nhập được, H lần lượt thao tác 10 lần rút được tổng số tiền là 46.500.000 đồng; sau đó H tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 2: Do bị cáo H biết ông ngoại của mình là Lê Thanh D có nhiều trang sức và biết nơi cất giấu nên H nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản này đem bán lấy tiền tiêu xài. Do đó: Vào khoảng 9 giờ trong tháng 02 năm 2023, H lén lút vào phòng ngủ của ông D lấy trộm 02 chiếc nhẫn có hình đầu rồng, tổng trọng lượng 08 chỉ vàng 18K đựng trong 01 hộp giấy, bìa cứng, màu xanh vàng có chữ “Đào Hồng Tâm”, sau đó H đến tiệm V1 thuộc huyện G, tỉnh Tây Ninh bán được số tiền 24.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Tây Ninh, kết luận: 02 (hai) chiếc nhẫn có hình đầu rồng ngậm ngọc màu đỏ, tổng trọng lượng 08 chỉ vàng 18K; vào thời điểm tháng 02 năm 2023 trị giá: 30.400.000 đồng.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 9 giờ ngày 04-7-2023, H lén lút trèo qua hàng rào B40 phía sau nhà ông D, rồi đi vào phòng ngủ của ông D lấy trộm 01 (một) hộp giấy, bìa cứng, màu xanh vàng có chữ “Đào Hồng Tâm” bên trong có chứa:

  • 01 (một) sợi dây chuyển có mặt hình chữ nhật, trọng lượng 10 lượng vàng 18K.
  • 01 (một) chiếc lắc có hình bảng dẹt, trọng lượng 03 lượng vàng 18K.
  • 01 (một) chiếc lắc có hình con hổ, trọng lượng 08 lượng vàng 18K.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu xanh, trọng lượng 04 chỉ vàng 18K.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu đen, trọng lượng 05 chỉ vàng 18K.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu đỏ, trọng lượng 03 chỉ vàng 18K.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có hình bảng vuông, trọng lượng 03 chỉ vàng 18K.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có hình chim đại bàng, trọng lượng 02 chỉ vàng 18K.
  • 02 (hai) chiếc nhẫn có hình đầu rồng ngậm ngọc màu đỏ, tổng trọng lượng 08 chỉ vàng 18K.
  • 01 (một) chiếc nhẫn loại vàng trơn, trọng lượng 01 chỉ vàng 24K.
  • 01 (một) chiếc nhẫn loại vàng trơn, trọng lượng 02 chỉ vàng 24K.
  • 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, đầu rồng, có định hạt màu đỏ, tổng khối lượng 17,4889 gam.

Sau khi chiếm đoạt được tài sản của ông D thì bị cáo H mang số vàng có được đến bán tại các tiệm vàng thuộc địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bến Tre; cụ thể:

  • Tại tiệm vàng không rõ họ tên, địa chỉ gần Bến xe C, Thành Phố Hồ Chí Minh, bị cáo H bán 01 (một) chiếc nhẫn loại vàng trơn, trọng lượng 02 chỉ vàng 24K; được số tiền 10.200.000 đồng.
  • Tại tiệm V2, Quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh, bị cáo H bán: 01 (một) sợi dây chuyển có mặt hình chữ nhật, trọng lượng 10 lượng vàng 18K; được số tiền 120.000.000 đồng và 01 (một) chiếc lắc có hình con hổ, trọng lượng 08 lượng vàng 18K; được số tiền 198.000.000 đồng.
  • Tại tiệm V3, Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh, bị cáo H bán: 01 (một) chiếc lắc có hình bảng dẹt, trọng lượng 03 lượng vàng 18K và 01 chiếc nhẫn vàng loại 18K, có hình rồng ngậm ngọc màu đỏ; được tổng số tiền 98.000.000 đồng.
  • Tại tiệm vàng không rõ tên, địa chỉ ở tỉnh Bến Tre bị cáo H bán: 01 chiếc nhẫn vàng loại 18K, có hình rồng ngậm ngọc màu đỏ; 01 (một) chiếc nhẫn có hình bảng vuông, trọng lượng 03 chỉ vàng 18K; 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu đỏ, trọng lượng 03 chỉ vàng 18K; 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu đen, trọng lượng 05 chỉ vàng 18K; được tổng số tiền 33.000.000 đồng.
  • Tại tiệm vàng không rõ tên, địa chỉ ở huyện C, tỉnh Bến Tre bị cáo H bán: 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu xanh, trọng lượng 04 chỉ vàng 18K; 01 (một) chiếc nhẫn có hình chim đại bàng, trọng lượng 02 chỉ vàng 18K; 01 (một) chiếc nhẫn loại vàng trơn, trọng lượng 01 chỉ vàng 24K; được tổng số tiền 28.500.000 đồng.

Sau đó, H sử dụng số tiền trên để tiêu xài cá nhân và mua các tài sản:

  • 01 (một) xe mô tô biển số 69L1-285.52, nhãn hiệu Honda, loại Vision màu xanh đen để sử dụng; do chưa đủ tuổi nên bị cáo đã nhờ Đinh Hoàng G đứng tên giùm giấy chứng nhận đăng ký xe 69000678.
  • 01 (một) két sắt màu đen, có cửa màu vàng, nhẵn nhiệu Chubb.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max, màu tím.
  • Một số trang sức được thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo còn cho anh Đinh Hoàng G: 01 (một) chiếc nhẫn màu vàng, có đính nhiều hột màu trắng và cho G mượn số tiền 30.000.000 đồng; cho vợ chồng Nguyễn Thị T2, Tạ Duy L mượn số tiền 100.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh; kết luận tại thời điểm ngày 04-7-2023 thì tài sản có giá trị như sau:

  • 01 (một) sợi dây chuyển có mặt hình chữ nhật, trọng lượng 10 lượng vàng 18K; trị giá: 316.670.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc lắc có hình bảng dẹt, trọng lượng 03 lượng vàng 18K; trị giá: 95.000.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc lắc có hình con hổ, trọng lượng 08 lượng vàng 18K; trị giá: 253.330.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu xanh, trọng lượng 04 chỉ vàng 18K; trị giá: 12.670.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu đen, trọng lượng 05 chỉ vàng 18K; trị giá: 15.830.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có đính ngọc màu đỏ, trọng lượng 03 chỉ vàng 18K; trị giá: 9.500.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có hình bảng vuông, trọng lượng 03 chỉ vàng 18K; trị giá: 9.500.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc nhẫn có hình chim đại bàng, trọng lượng 02 chỉ vàng 18K; trị giá: 6.335.000 đồng.
  • 02 (hai) chiếc nhẫn có hình rồng ngậm ngọc màu đỏ, tổng trọng lượng 08 chỉ vàng 18K; trị giá 25.330.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc nhẫn loại vàng trơn, trọng lượng 01 chỉ vàng 24K; trị giá: 5.320.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc nhẫn loại vàng trơn, trọng lượng 02 chỉ vàng 24K; trị giá: 10.630.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là: 760.115.000 đồng.

Kết luận giám định số 1415/KL-KTHS ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Xe mô tô biển số 69L1-285.52, nhãn hiệu Honda, loại Vision màu xanh đen, số khung: RLHJK0349PY020286, số máy: JK03E0733778: Số khung, số máy không bị đục sửa.

Kết luận giám định số 5847/KL-KTHS ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an Tại Thành Phố H, kết luận:

  • 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng, khối lượng 43,1380 (bốn mươi ba phẩy một ba tám không) gam; có thành phần kim loại Bạc (A): 96,88%.
  • 01 (một) lắc kim loại màu trắng, khối lượng 10,0657 (mười phẩy không sáu năm bảy) gam; có thành phần kim loại Bạc (A): 95,55 %.
  • 01 (một) chiếc lắc kim loại màu vàng, khối lượng 6,1130 (sáu phẩy một một ba không) gam; có thành phần kim loại Vàng (A): 61,74%, B (A): 12,63%.
  • 01 (một) nhẫn bông bằng kim loại màu trắng, khối lượng 11,6825 (mười một phẩy sáu tám hai năm) gam; có thành phần kim loại Bạc (A): 95,90%.
  • 01 (một) nhẫn dạng chấu, bằng kim loại màu trắng, khối lượng 13,9625 (mười ba phẩy chín sáu hai năm) gam; có thành phần kim loại Vàng (A): 67,34%.
  • 01 (một) nhẫn bông bằng kim loại màu trắng, khối lượng 13,0134 (mười ba phẩy không một ba bốn) gam; có thành phần kim loại Bạc (A): 95,36%.
  • 01 (một) nhẫn dạng chấu bằng kim loại màu trắng, khối lượng 7,6169 (bảy phẩy sáu một sáu chín) gam; có thành phần kim loại Vàng (A): 59,84%, B (A): 21,71%.
  • 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, đính đá màu trắng, tổng khối lượng 2,2964 (hai phẩy hai chín sáu bốn) gam; có thành phần kim loại Vàng (A): 72,15%.
  • 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, đính hột trắng, tổng khối lượng 2,1118 (hai phẩy một một một tám) gam; có thành phần kim loại Vàng (A): 43,29%, B (A): 30,11%.
  • 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, hình đầu rồng có đính hạt màu đỏ, tổng khối lượng 17,4889 (mười bảy phẩy bốn tám tám chín) gam; có thành phần kim loại Đ (Cu), K (Z).
  • 01 (một) mãnh kim loại màu vàng, hình chữ “X”, có đính hạt đá màu trắng nhỏ, tổng khối lượng 1,4123 (một phẩy bốn một hai ba) gam; có thành phần kim loại: Vàng (A1): 61,18%, В (A): 16,89%.

Các mẫu hạt màu trắng, đỏ được đính trên các nhẫn trang sức, Phân viện không đủ phương tiện để giám định.

Về vật chứng:

- Thu giữ của bị cáo Trần Văn H: 01 (một) két sắt màu đen, có cửa màu vàng, nhẫn nhiệu Chubb, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy màu xanh vàng, hình hộp chữ nhật có chữ “Đào Hồng Tâm” đã qua sử dụng; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, loại hộp Iphone 14 Promax, trên hộp có ghi Imei: 358165603172908, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn H; 01 (một) xe mô tô biển số 69L1-285.52, nhãn hiệu Honda, loại Vision màu xanh đen, số khung: RLHJK0349PY020286, số máy: JK03E0733778; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 69000678, tên chủ xe Đinh Hoàng G; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max, màu tím, số seri CJQTFY3VQV (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy); tiền Việt Nam 2.200.000 (hai triệu hai trăm ngàn) đồng; 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng, khối lượng 43,1126 (bốn mươi ba phẩy một một hai sáu) gam; 01 (một) lắc kim loại màu trắng, khối lượng 10,0431 (mười phẩy không bốn ba một) gam; 01 (một) chiếc lắc kim loại màu vàng, khối lượng 6,1021 (sáu phẩy một không hai một) gam; 01 (một) nhẫn bông bằng kim loại màu trắng, khối lượng 11,6621 (mười một phẩy sáu sáu hai một) gam; 01 (một) nhẫn dạng chấu, bằng kim loại màu trắng, khối lượng 13,9423 (mười ba phẩy chín bốn hai ba) gam; 01 (một) nhẫn bông bằng kim loại màu trắng, khối lượng 13,0012 (mười ba phẩy không không một hai) gam; 01 (một) nhẫn dạng chấu bằng kim loại màu trắng, khối lượng 7,6022 (bảy phẩy sáu không hai hai) gam; 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, đính hột trắng, tổng khối lượng 2,1015 (hai phẩy một không một năm) gam; 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, hình đầu rồng có đính hạt màu đỏ, tổng khối lượng 17,4612 (mười bảy phẩy bốn sáu một hai) gam; 01 (một) mãnh kim loại màu vàng, hình chữ “X”, có đình hạt đá màu trắng nhỏ, tổng khối lượng 1,4001 (một phẩy bốn không không một) gam.

- Ngày 25-8-2023 anh Đinh Hoàng G đã tự nguyện giao nộp lại số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng và 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, đính đá màu trắng, tổng khối lượng hoàn lại sau giám định là 2,2724 (hai phẩy hai bảy hai bốn) gam.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Quá trình điều tra anh Phạm C Thiệt yêu cầu bị cáo Trần Văn H bồi thường số tiền 47.000.000 (bốn mươi bảy triệu) đồng. Tại phiên toà anh T1 yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
  • - Ông Lê Thanh D yêu cầu được nhận lại tiền và tài sản còn lại thu giữ được của bị cáo H và người liên quan; các tài sản không thu hồi được ông D không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường.
  • - Về kê biên tài sản: Bị cáo H không có tài sản riêng nên không thực hiện thủ tục kê biên.

Cáo trạng số 08/CT-VKS-P3 ngày 04-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố: Bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn H với mức án từ 07 (bảy) năm tù đến 09 (chín) năm tù.
  • - Miễn hình phạt bổ sung.
  • - Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 586, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn H bồi thường cho anh Phạm C Thiệt số tiền chiếm đoạt 40.000.000 đồng. Nếu bị cáo không có tài sản thì mẹ ruột của bị cáo là bà Lê Hồng H1 bồi thường thay bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy màu xanh vàng, hình hộp chữ nhật có chữ “Đào Hồng Tâm”, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho ông Lê Thanh D:
      • + 01 (một) két sắt màu đen, có cửa màu vàng, nhãn hiệu Chubb, đã qua sử dụng.
      • + 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, loại hộp Iphone 14 Pro max, trên hộp có ghi số Imei: 358165603172908, đã qua sử dụng.
      • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max, màu tím, số seri CJQTFY3VQV, đã qua sử dụng.
      • + 01 (một) xe mô tô biển số 69L1-285.52, nhãn hiệu Honda, loại Vision màu xanh đen, số khung RLHJK0349PY020286, số máy JK03E0733778, đã qua sử dụng.
      • + 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 69000678 tên chủ xe Đinh Hoàng G.
      • + Số tiền: 32.200.000 đồng.
      • + 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng, khối lượng 43.1126 gam; 01 (một) lắc kim loại màu trắng, khối lượng 10,0431 gam; 01 (một) chiếc lắc bằng kim loại màu vàng, khối lượng 6,1021 gam; 01 (một) nhẫn bông bằng kim loại màu trắng, khối lượng 11,6621 gam; 01 (một) nhẫn dạng chấu bằng kim loại màu trắng, khối lượng 13,9423 gam; 01 (một) nhẫn bông bằng kim loại màu trắng, khối lượng 13,0012 gam; 01 (một) nhẫn dạng chấu bằng kim loại màu trắng, khối lượng 7,6022 gam; 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, có đính đá màu trắng, tổng khối lượng 2,2724 gam; 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, đính hột trắng, tổng khối lượng 2,1015 gam; 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, đầu rồng có đính hạt màu đỏ, tổng khối lượng 17,4612 gam; 01 (một) mảnh kim loại màu vàng, hình chữ “X”, có đính hạt đá màu trắng nhỏ, tổng khối lượng 1,4001 gam.
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Văn H: 01 (một) thẻ Căn cước công dân số [...] tên Trần Văn H.
    • - Buộc vợ chồng Nguyễn Thị T2 và Tạ Duy L trả lại cho bị hại Lê Thanh D số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày với nội dung: Thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng như bản luận tội của kiểm sát viên tại phiên toà đối với bị cáo H. Bị cáo không có nghề nghiệp, tuổi còn nhỏ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; lợi dụng sự chủ quan, sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại nên bị cáo phạm tội. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; khi phạm tội chưa tròn 17 tuổi nên được hưởng chế định người chưa thành niên phạm tội; tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình của bị cáo đáng được quan tâm do cha bị cáo chết sớm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt ở mức thấp nhất với đề nghị của kiểm sát viên tại phiên toà.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo xin lỗi đối với bị hại, đối với mẹ bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Chị Nguyễn Thị T2, anh Tạ Duy L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được tống đạt hợp lệ, vắng mặt lần thứ 2; căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên từ tháng 02 năm 2023 đến tháng 7 năm 2023 bị cáo H đã lén lút chiếm đoạt số tiền 47.000.000 đồng của anh Phạm C Thiệt và 02 lần lén lét chiếm đoạt tài sản trị giá 790.515.000 đồng của ông Lê Thanh D. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Hội đồng xét xử xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, thấy rằng:

[4.1] Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.2] Bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4.3] Khi phạm tội bị cáo là người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nên được áp dụng chế định đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại các Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự.

[4.4] Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Số tiền bị cáo chiếm đoạt là 837.515.000 đồng là đặc biệt lớn. Do đó, phải có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Bị cáo phạm tội chưa đủ 18 tuổi; nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

[6.1] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Phạm C Thiệt số tiền 40.000.000 đồng.

[6.2] Ông Lê Thanh D yêu cầu được nhận lại tiền và tài sản còn lại thu giữ được của bị cáo H và người liên quan; các tài sản không thu hồi được ông D không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường; nên ghi nhận.

[6.3] Buộc những người có nghĩa vụ liên quan phải giao nộp lại tiền để tạm giữ đảm bảo thi hành án phần trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với bị hại ông Lê Thanh D.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Hộp giấy có chữ “Đào Hồng Tâm” đã qua sử dụng, là vật không có giá trị và ông D không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

[7.2] Trả lại cho bị cáo thẻ căn cước công dân.

[7.3] Đối với các tài sản thu giữ từ bị cáo có nguồn gốc do bị cáo bán tài sản chiếm đoạt được của ông Lê Thanh D và sử dụng tiền để mua; nên phải trả lại cho ông Lê Thanh D.

[7.4] Tiền, tài sản do người có nghĩa vụ liên quan là anh Đinh Hoàng G giao nộp phải tuyên trả lại cho ông Lê Thanh D.

[8] Đối với các chủ kinh doanh vàng bạc, khi mua vàng của bị cáo H không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không xử lý.

[9] Đối với anh Đinh Hoàng G, anh Tạ Duy L, chị Trần Thị T4 khi mượn tiền và giữ tài sản của bị cáo không biết tiền, tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý.

[10] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26-8-2023.

  2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 586, 589 Bộ luật Dân sự:

    Buộc bị cáo Trần Văn H có trách nhiệm bồi thường cho anh Phạm C Thiệt số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng. Trong trường hợp bị cáo không có tài sản thì người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Lê Hồng H1 có nghĩa vụ bồi thường cho anh Phạm C Thiệt số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng. Trong trường hợp bị cáo có tài sản nhưng không đủ để bồi thường số tiền nêu trên thì người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Lê Hồng H1 có nghĩa vụ bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của bà H1.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 166, 167, 221, 235, 579, 580, 582 Bộ luật Dân sự.
    1. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) hộp giấy màu xanh vàng, hình hộp chữ nhật có chữ “Đào Hồng Tâm” đã qua sử dụng.
    2. Trả lại cho bị cáo Trần Văn H: 01 (một) thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn H.
    3. Trả lại cho ông Lê Thanh D:
      • 01 (một) hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, loại hộp Iphone 14 Promax, trên hộp có ghi Imei: 358165603172908, đã qua sử dụng.
      • 01 (một) két sắt màu đen, có cửa màu vàng, nhãn nhiệu Chubb, đã qua sử dụng.
      • 01 (một) xe mô tô biển số 69L1-285.52, nhãn hiệu Honda, loại Vision màu xanh đen, số khung: RLHJK0349PY020286, số máy: JK03E0733778 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe.
      • 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 69000678, tên chủ xe Đinh Hoàng G.
      • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max, màu tím, số seri CJQTFY3VQV (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy).
      • Tiền Việt Nam: 32.200.000 (ba mươi hai triệu hai trăm ngàn) đồng.
      • 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu trắng, khối lượng 43,1126 (bốn mươi ba phẩy một một hai sáu) gam.
      • 01 (một) lắc kim loại màu trắng, khối lượng 10,0431 (mười phẩy không bốn ba một) gam.
      • 01 (một) chiếc lắc kim loại màu vàng, khối lượng 6,1021 (sáu phẩy một không hai một) gam.
      • 01 (một) nhẫn bông bằng kim loại màu trắng, khối lượng 11,6621 (mười một phẩy sáu sáu hai một) gam.
      • 01 (một) nhẫn dạng chấu, bằng kim loại màu trắng, khối lượng 13,9423 (mười ba phẩy chín bốn hai ba) gam.
      • 01 (một) nhẫn bông bằng kim loại màu trắng, khối lượng 13,0012 (mười ba phẩy không không một hai) gam.
      • 01 (một) nhẫn dạng chấu bằng kim loại màu trắng, khối lượng 7,6022 (bảy phẩy sáu không hai hai) gam.
      • 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, đính đá màu trắng, tổng khối lượng 2,2724 (hai phẩy hai bảy hai bốn) gam.
      • 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, đính hột trắng, tổng khối lượng 2,1015 (hai phẩy một không một năm) gam.
      • 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, hình đầu rồng có đính hạt màu đỏ, tổng khối lượng 17,4612 (mười bảy phẩy bốn sáu một hai) gam.
      • 01 (một) mãnh kim loại màu vàng, hình chữ “X”, có đình hạt đá màu trắng nhỏ, tổng khối lượng 1,4001 (một phẩy bốn không không một) gam.

      (Vật chứng, tiền hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22-3-2024).

    4. Ông Lê Thanh D được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản là xe mô tô biển số 69L1-285.52, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³, nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION, màu sơn: Xanh đen, số máy JK03E0733778, số khung RLHJK0349PY020286, dung tích xi lanh 109.5 cm³, năm sản xuất: 2023 theo quyết định của Bản án và có nghĩa vụ đăng ký xe theo quy định của pháp luật.
    5. Buộc anh Tạ Duy L, chị Nguyễn Thị T2 có nghĩa vụ liên đới giao nộp số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng để tạm giữ đảm bảo thi hành án phần trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với bị hại là ông Lê Thanh D.
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, nếu người phải thi hành án chưa thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  5. Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 (hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án căn cứ các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  7. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án Cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh để xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TANDCC;
  • - Vụ 1-TATC (khi bản án có hiệu lực);
  • - VKSNDCC;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VP CQCSĐT CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh:
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST-CTN ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger