TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày 25 - 4 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý A Hờ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Hưng
Bà Bùi Minh Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải.
- Đại diện VKSND huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Bà Vừ Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Vàng A T1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 09/01/1971, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: bản Nả H, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Dua K và bà Sùng Thị B (Đều đã chết); có vợ là Thào Thị C sinh năm 1970 và có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2024, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1983; Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y, có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Thào A D; trú tại tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/01/2024, tổ công tác Công an xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái làm nhiệm vụ tại bản N, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái thì phát hiện, ghi vấn Vàng A T1, sinh năm 1971, trú tại bản N, xã P, huyện M, có liên quan đến hoạt động mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, Vàng A T1 đã tự giác giao nộp 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy, bên trong có 16 gói nilon, trong đó có 14 gói nilon màu hồng bên trong mỗi gói đều có một viên nén màu hồng và 01 gói bên trong có mảnh viên nén màu hồng; 01 gói nilon màu trắng bên trong có một viên nén màu hồng; tiền có chữ Ngân hàng N 840.000 đồng; 01 điện thoại di động, loại bàn phím số màu xanh. Vàng A T1 khai nhận các viên nén màu hồng và mảnh viên nén màu hồng thu giữ ở trên đều là ma túy tổng hợp của bản thân cất giấu với mục đích để sử dụng. Quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 46/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận:
- Viên nén màu hồng hình tròn dẹt trong gói nilon màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Vàng A T1 có khối lượng là 0,09 gam. Đã lấy toàn bộ 0,09 gam gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine .
- Mảnh viên nén màu hồng trong gói nilon màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Vàng A T1 có khối lượng là 0,07 gam. Đã lấy toàn bộ 0,07 gam gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
- Các viên nén màu hồng hình tròn dẹt trong 14 gói nilon màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Vàng A T1 có tổng khối lượng là 1,4 gam. Trích 0,5 gam từ 1,4 gam các viên nén màu hồng hình tròn dẹt gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 50/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận: Tổng số tiền 840.000 đồng gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng N phát hành.
Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo Vàng A T1 thừa nhận: Vào ngày 06/01/2024 bị cáo có lên khu vực bản N, xã N mua được của một người phụ nữ không quen biết 16 gói, trong đó có 15 gói được gói ni lon màu hồng và 01 gói ni lon màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa 01 viên ma túy tổng hợp với giá 500.000đ. Mua xong bị cáo cho vào túi áo mang về nhà, khi về đến nhà thấy không có ai bị cáo dùng móng tay cấu chia đôi 01 viên ma túy tổng hợp trong gói ni lon màu hồng để sử dụng, số còn lại bị cáo cho vào 01 chiếc lọ màu trắng để cất giấu rồi cho vào túi áo. Đến ngày 07/01/2024 bị cáo mặt chiếc áo có lọ nhựa bên trong đi uống Methandone ở bản N, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái thì bị Công an xã P phát hiện và thu giữ toàn bộ số ma túy còn lại.
Bản Cáo trạng số: 10/CT-VKS-MCC ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố bị cáo Vàng A Tủa về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định; vỏ phong bì, các mảnh nilon gói sau khi giám định; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy.
- + Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động và số tiền 840.000₫
- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải đã truy tố, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết về pháp luật còn hạn chế; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vàng A T1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, trả lại tài sản hợp pháp của bị cáo cho bị cáo và miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tố tụng, người tham gia tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định. Từ đó đã đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 07/01/2024 tại bản N, xã P, huyện M tỉnh Yên Bái, Công an xã P đã thu giữ của bị cáo T1 1,56g ma túy, loại Methamphetamine với mục đích cất giữ để sử dụng. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố bị cáo Vàng A T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng cho bản than; hành vi trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; khi bị Công an phát hiện bị cáo đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy cho lực lượng Công an và trong quá trình làm việc bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm để nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án. Do vậy khi lượng hình cần áp dụng điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Nhân thân: Quá trình sinh sống tại nơi cư trú, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị xử phạt hình sự, chưa bị xử lý hành chính. Như vậy cho thấy bị cáo là người có nhân thân tốt.
[5] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Xét gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về mức đề nghị hình phạt chính của của Kiểm sát viên và người bào chữa:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, trọng lượng ma túy thu giữ của bị cáo không lớn; có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị xử phạt hình sự, chưa bị xử lý hành chính. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, phù hợp, đủ răn đe, phòng ngừa chung, cũng như để thể hiện chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước đối với người phạm tội nên cần được chấp nhận một phần.
[7] Về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án:
- - 0,9g ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành; 02 vỏ phong bì và giấy nilon gói sau khi mở niêm phong; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần được tịch thu tiêu hủy.
- - 01 chiếc điện thoại di động, loại bàn phín số, màu xanh, mặt trước và mặt sau có ký hiệu NOKIA, đã qua sử dụng; số tiền 840.000đ. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
[8] Các vấn đề có liên quan đến vụ án:
- - Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Vàng A T1. Quá trình điều tra bị cáo không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.
- - Đối với khối lượng ma túy bị cáo đã sử dụng vào ngày 06/01/2024, do bị cáo đã sử dụng hết khi sử dụng bị cáo không cân xác định thực tế khối lượng nên không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.
- - Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ nhưng do bị cáo đã bị khởi tố và tạm giam nên không có điều kiện thi hành, do đó không đề cập đến việc xử lý đối với bị cáo về hành vi này.
[9] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vàng A T1 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 0,9g ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành; Mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Vàng A T1 - SN 1971, tại bản N, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 07/01/2024 (sau khi trích mẫu giám định); Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Lê Vũ L1, Nguyễn Ngọc L, Lý A V, Hoàng Hữu Quốc T2, Trần Nhật T3 và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Y.
- + 02 vỏ phong bì và giấy nilon gói sau khi mở niêm phong.
- + 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy.
- - Trả lại cho bị cáo:
- + 01 chiếc điện thoại di động, loại bàn phín số, màu xanh, mặt trước và mặt sau có ký hiệu NOKIA, đã qua sử dụng.
- + Số tiền 840.000đ (Tám trăm bốn mươi ngàn đồng). Toàn bộ số tiền này được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành; Mặt trước phong bì có ghi: Tiền thu giữ khi bắt quả tang Vàng A T1 - SN 1971 (sau khi giám định); Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Hoàng Hữu Quốc T2, Đồng Thu H và các dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Y tại các mép dán giáp lai.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A T1.
4. Về quyền kháng cáo: Bị Vàng A T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên Lý A Hờ |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng A T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy xử 1 năm 30 tháng tù
