Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẢNG TRỊ

TỈNH QUẢNG TRỊ


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày: 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khắc Hoà và ông Nguyễn Văn Đồng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phú – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Bát - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tấn Hoàng H; sinh ngày 28/11/1992, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố G, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1965 và bà Lê Thị N, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

  • - Ngày 10/7/2014, bị Toà án nhân dân Quận Gò vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 167/2014/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/4/2017.
  • - Ngày 09/12/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 287/2019/HS-ST. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 06/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, buộc phải chấp hành 02 năm 09 tháng tù, với tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2021. Tuy nhiên, bị cáo chưa bồi thường số tiền 13.000.000đồng.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

2. Phan Tuấn A; tên gọi khác: Lỳ Tuyền; sinh ngày 14/8/1993, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Hữu T1, sinh năm 1967 và bà Hồ Thị Thanh T2, sinh năm 1968; vợ: Trần Mĩ V (đã ly hôn) và có 02 người con, cùng sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 16/7/2009, bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 08 năm tù về tội “Giết người” theo Bản án số 13/2009/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/8/2011.
  • - Ngày 24/5/2017, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt hành chính số 109/QĐ-XPVPHC.
  • - Ngày 10/7/2017, bị Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Kinh doanh hàng hoá nhập lậu” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28/QĐ-XPHC.
  • - Ngày 30/5/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 25/2019/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 18/02/2020.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

* Bị hại: Chị Cao Thị Hồng H1, sinh ngày 12/4/1988; nơi cư trú: Đ, thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Trình Đức T3, sinh ngày 04/3/1999; nơi cư trú: Khu phố B, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/12/2023, bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H ngồi chơi với bị cáo Phan Tuấn A tại nhà của bị cáo H đang thuê ở khu phố B, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị thì bị cáo H nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để kiếm tiền tiêu xài nên rủ bị cáo A đi cùng. Sau đó, các bị cáo H và A đi bộ đến khu vực bến xe cũ gần chợ T5 Quảng Trị. Tại đây, bị cáo H thấy phía trước sân nhà của ông Cao Trọng S, sinh năm 1950; trú tại: Khu phố A, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có xe mô tô biển kiểm soát 74C1-316.31 của chị Cao Thị Hồng H1, không có người trông coi nên bị cáo H đi vào lấy trộm, còn bị cáo A ở ngoài cảnh giới. Lấy được xe mô tô, vì không có chìa khoá xe nên các bị cáo H và Anh thay nhau đẩy về nhà của bị cáo H đang thuê. Tại đây, các bị cáo H và A tìm cách mở khoá của xe nhưng không được. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, với lý do bị mất chìa khoá, bị cáo H nhờ anh Trình Đức T3 đến mở khoá xe mô tô. Sau khi được anh T3 mở khoá giúp, các bị cáo H và A đưa xe mô tô ra thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để cầm cố. Trên đường đi, bị cáo H tháo biển số của xe mô tô vứt bỏ, rồi để bị cáo A đưa xe mô tô đến đường L, Phường E, thành phố Đ cầm cho một người tên “V1” với số tiền 2.000.000đồng. Sau đó, cả hai quay về lại thị xã Q, bị cáo H sử dụng 1.500.000 đồng và đưa cho bị cáo Anh 500.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 74C1 - 316.31 bị mất trộm, chị H1 đã trình báo sự việc đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q. Quá trình cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiến hành xác minh, làm rõ, bị cáo Phan Tuấn A đã giao nộp xe mô tô và cùng với bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 579/KL-ĐG ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q, kết luận giá trị xe mô tô biển kiểm soát 74C1-316.31 tại thời điểm bị xâm hại là 6.300.000 đồng.

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ các tài sản:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen-đỏ, số khung: FC30FY099740, số máy: 1FC3099750, không gắn biển số.
  • - 01 điện thoại, màn hình cảm ứng, mặt sau màu vàng, trên thân máy mặt sau có dòng chữ “Iphone”, IMEI: 354390066999999, bên trong máy được gắn thẻ sim mobifone dãy số 8401221033208493.

Sau khi tiến hành xác minh nguồn gốc xe mô tô và điện thoại. Xét thấy việc trả lại không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án và thi hành án nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với anh Trình Đức T3 là người được bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H nhờ mở khoá xe mô tô biển kiểm soát 74C1 - 316.31 giúp, nhưng anh T3 không biết xe mô tô là do các bị cáo H và A trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

Đối với việc bị cáo Phan Tuấn A đưa xe mô tô đến đường L, Phường E, thành phố Đ cầm cho một người tên “V1” với số tiền 2.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đang tiến hành xác minh người tên “V1” khi nào có đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau.

Cáo trạng số: 09 /CT-VKS-TXQT ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo Phan Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H và Phan Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H từ 18 tháng đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2023. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Tuấn A từ 14 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2023. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị về án phí và các nội dung liên quan khác.

Về tài sản đã thu giữ trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại xe mô tô và 1.000.000 đồng tiền hỗ trợ làm lại biển số xe, chị Cao Thị Hồng H1 không yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với chứng cứ khách quan có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà như sau:

Lợi dụng sự sở hở trong việc quản lý tài sản của chị Cao Thị Hồng H1, nên ngày 04/12/2023, các bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H và Phan Tuấn A đã có hành vi lấy 01 xe mô tô biển kiểm soát 74C1-316.31, có giá trị 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng) của chị Cao Thị Hồng H1.

Bị cáo H và bị cáo A là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không chịu rèn luyện bản thân mà vì muốn hưởng thụ, tiêu xài cá nhân đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo H phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” ở Bản án trước và chưa chấp hành xong khoản tiền bôi thường 13.000.000 đồng nên phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo Phan Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Áp dụng hình phạt: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, tổ chức thực hiện. Bị cáo H là người rủ bị cáo A thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều là người có nhân thân thấn xấu nhưng vẫn không tỉnh ngộ.

Xét hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo H cao hơn so với bị cáo A và áp dụng khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Tuy nhiên, cả bị cáo H và bị cáo A đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt không lớn nên bị cáo H được áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và áp dụng hình phạt cho cho bị cáo Anh nhẹ hơn bị cáo H.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền.

[5] Các bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo chấp hành án.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền hỗ trợ, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H và Phan Tuấn A (tên gọi khác: Lỳ T4), phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2023.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Tuấn A 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2023.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn Hoàng H và Phan Tuấn A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TX. Quảng Trị;
  • - Công an thị xã Quảng Trị (3 bản);
  • - Chi cục THA dân sự TX Quảng Trị;
  • - Sở Tư pháp T. Quảng Trị;
  • - Bộ phân hồ sơ nghiệp vụ Công an TXQT;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Hoàng Lê Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn Hoàng Hiếu và Phan Tuấn Anh (tên gọi khác: Lỳ Tuyền), phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger