|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày 12-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nhan Ngọc Đăng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Luật - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
- Ông Nguyễn Minh Châu - Phó Bí thư huyện đoàn Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thúy Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Mai Quốc B (tên gọi khác: không có), sinh ngày 19/10/2005 tại tỉnh Đồng Nai; nơi ĐKNKTT: Khu phố A, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: không nghề; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con bà Mai Thị Kim L, bố chưa xác định; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Khắc H (tên gọi khác: không có), sinh ngày 07/3/2007 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: không nghề; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thu H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc H: bà Lê Thị Thùy L1, sinh năm 1989 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt
- Người đại điện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khắc H: bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị - Là mẹ của bị cáo; có mặt.
- Bị hại:
- Anh Ngô Thanh M, sinh năm 1977 và chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976; đều trú tại địa chỉ: thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Do anh Ngô Thanh M làm đại diện hợp pháp (Hợp đồng ủy quyền ngày 20/12/2023), vắng mặt không có lí do.
- Anh Võ B1, sinh năm 1971 và chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1980; đều trú tại địa chỉ: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Do anh Võ B1 làm đại diện hợp pháp (Hợp đồng ủy quyền ngày 06/12/2023), có mặt.
- Bà Lê Thị Thùy S, sinh năm 1967 và ông Lê Văn H4, sinh năm 1965; đều trú tại địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Do bà Lê Thị Thùy S làm đại diện hợp pháp (Giấy ủy quyền ngày 02/01/2024), vắng mặt không có lí do.
- Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1982 và anh Hoàng Đức V, sinh năm 1975; đều trú tại địa chỉ: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Do chị Nguyễn Thị H5 làm đại diện hợp pháp (Giấy ủy quyền ngày 11/12/2023), vắng mặt không có lí do.
Người tham gia tố tụng khác: ông Nguyễn Văn Q - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 18/9/2023, Mai Quốc B nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân nên sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Vivo 195 của mình đăng nhập vào tài khoản Facebook có tên “Quốc Bảo” nhắn tin đến ĐTDĐ nhãn hiệu Sam sung đăng nhập tài khoản Facebook có tên “Khắc Huy” của Nguyễn Khắc H, là bạn của B nói: “Tối có đi bợ không?” (ý hỏi H có đi trộm cắp tài sản không), H trả lời: “Coi đã, tí tau vô đã rồi nói”.
Tối cùng ngày, H điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Sirius màu đen không nhớ biển kiểm soát (BKS) của B cho mượn trước đó đến nhà trọ B thuê của chị Nguyễn Thị X (sinh năm 1955, trú tại thôn T, xã G, huyện G) ngủ lại. Đến khoảng 23 giờ 30 phút, B gọi H dậy nói: “Đi bợ không?” (ý hỏi đi trộm cắp tài sản), H hỏi lại: “Đi ở đâu?”, B trả lời: “Đi xuống làng của anh” (thôn N, xã G nơi mẹ B đang sinh sống), thì H đồng ý. Sau đó, B chở H theo hướng thị trấn G đi thôn N.
Rạng sáng ngày 19/9/2023 trên đường đi, H phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ - đen BKS 74C-214.78 của anh Ngô Thanh M (sinh năm 1977, trú tại thôn N, xã G, huyện G) dựng ở sân nhà không có tường rào bảo vệ nên nói: “Đoạn sau nở có xe”. B dừng xe cách nhà anh M khoảng 30m rồi nói H vào lấy, B ngồi ở xe đợi, cảnh giới. H đi đến phát hiện xe không khóa cổ nên dắt đến vị trí của B và ngồi lên xe, B vừa điều khiển xe vừa dùng chân đẩy phía sau xe H đang điều khiển đi được một quãng cách nhà anh M khoảng 02km thì dừng lại. B dùng tuốc nơ vít, mở hé cánh mang xe mô tô BKS 74C-214.78 vừa trộm được, sử dụng dây điện màu đỏ chuẩn bị sẵn để kích nổ nhưng không được. H tiếp tục ngồi lên xe, B điều khiển xe của mình dùng chân đẩy phía sau về phòng trọ. Quá trình di chuyển, cả hai dừng lại (không nhớ rõ vị trí), tháo BKS xe mô tô 74C-214.78 vứt bên lề đường. Sau đó, B tháo bộ mang, ốp nhựa thân xe nguyên bản bán cho chị Nguyễn Thị H6 (sinh năm 1972, làm nghề thu mua phế liệu, trú tại thôn T, xã G, huyện G) và mua bộ mang, ốp nhựa thân xe màu trắng thay thế nhằm che dấu nguồn gốc. Xe mô tô trộm cắp được B sử dụng làm phương tiện đi lại còn xe gắn máy của mình giao H sử dụng.
Ngày 18/11/2023, Công an huyện G phối hợp với Công an xã G phát hiện tại phòng trọ của B có phương tiện, đồ vật nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua đó, B khai nhận xe mô tô BKS 74C-214.78 do B và H trộm cắp mà có.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của B, Cơ quan điều tra thu giữ xe mô tô màu trắng không gắn BKS, số khung RLC S5C6JOFY126891 dựng ngay sát cửa chính nhà trọ, xe mô tô BKS 74AB-004.89, số khung RLCS5C630CY675228, 01 bánh xe gồm lốp và và nh xe, trên lốp in dòng chữ TECHNOLOGY FROM THAILAND, vành xe bằng kim loại màu trắng; 02 mảnh nhựa màu đen dạng cánh mang bên trái, phải của xe mô tô, bề mặt có in dòng chữ “Sirius” màu đỏ; 01 bộ phận bằng kim loại, hình dạng ống xả xe mô tô, bề mặt in dòng chữ “With CATALYZER”; 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen BKS 74L1-156.28.
Khám xét chỗ ở của H, Cơ quan điều tra thu giữ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen, không gắn BKS, số khung RLCJ5B9407Y002140, số má y 5B94002140.
Quá trình điều tra các bị can khai nhận ngoài lần trộm cắp tài sản ngày 19/9/2023 còn thực hiện 03 vụ trộm cắp tại các thôn L, xã G, huyện G, thôn Q, xã H, huyện H, thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Quảng Trị, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Trộm cắp xe gắn máy BKS 74AB-004.89 nhãn hiệu Flyamaha của anh Võ B1 trị giá 6.700.000 đồng.
Khuya ngày 08/9/2023, B nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên nói với H: “Dưới làng anh có chiếc xe máy họ hay chăn vịt và bỏ nơi cầu á”, H trả lời: “Chỗ mô?”, B nói: “Đi với anh” rồi điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Sirius không nhớ BKS của mình chở H từ nhà trọ theo hướng thị trấn G đi xã G.
Rạng sáng ngày 09/9/2023, khi đến cầu B thuộc địa phận thôn L, xã G, B phát hiện xe gắn máy nhãn hiệu Flyamaha màu trắng - đen, BKS 74AB - 004.89 của anh Võ B1 (sinh năm 1971, trú tại thôn L, xã G) dựng ở mép đường nhựa liền nói: “Mi lại bợ đi, có chi tau lo hết” (ý nói H vào trộm xe), thì được H đồng ý. B dừng xe cách cầu B khoảng 20m ngồi đợi, cảnh giới. H đi đến phát hiện xe không khóa cổ nên dắt đến vị trí của B và ngồi lên xe, B vừa điều khiển xe vừa dùng chân đẩy phía sau xe H đang điều khiển đi được một quãng đến đoạn đường cách vị trí cầu B khoảng 03km thì dừng lại. B sử dụng tuốc nơ vít tháo bộ mang cất giấu ở đống cát bên đường, sử dụng dây điện màu đỏ chuẩn bị sẵn để kích nổ thì khởi động được. Cả hai về phòng trọ cất giấu xe vừa trộm được và quay trở lại lấy bộ mang đã giấu trước đó.
Sáng ngày 09/9/2023, cả hai mua dụng cụ sơn lại bộ mang và ốp nhựa thân xe thành màu trắng sau đó gắn lại như cũ, tháo BKS 74AB-004.89 cất giữ tại nhà trọ. Sau đó cả hai đến thành phố Đ (không nhớ địa điểm) bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 1.100.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Trộm cắp xe mô tô BKS 74F1-055.60 nhãn hiệu Yamaha Sirius của chị Lê Thị Thùy S trị giá 3.789.800 đồng.
Tối ngày 08/10/2023, tại nhà trọ của B, H nói: “Đi bợ tiếp không?”, B trả lời: “Có”. H hỏi: “Đi chỗ mô?”, B trả lời: “Đi vào phía thị xã Q” thì H đồng ý. B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng không gắn BKS (xe trộm cắp vào ngày 19/9/2023 của anh M tại thôn N, xã G, huyện G) chở H từ nhà trọ của mình theo Quốc lộ A vào hướng thị xã Q.
Rạng sáng ngày 09/10/2023, khi đến địa phận thôn Q, xã H, huyện H, B phát hiện xe mô tô BKS 74F1- 055.60 nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - đỏ của chị Lê Thị Thùy S (sinh năm 1967, trú tại thôn Q, xã H, huyện H) đang dựng tại sân nhà. B nói với H: “Mi vô lấy đi, tau chở mi rồi”, thì H đồng ý. Lúc này, B dừng xe cách nhà chị S khoảng 10m đợi, cảnh giới. H đi đến phát hiện xe không khóa cổ nên dắt đến vị trí của B và ngồi lên xe, B vừa điều khiển xe Yamaha Sirius màu trắng vừa dùng chân đẩy phía sau đến đoạn đường vắng (không nhớ vị trí) thì dừng lại. B dùng tuốc nơ vít mở hé cánh mang và dùng dây điện màu đen có sẵn để kích nổ nhưng không khởi động được. Cả hai tháo BKS 74F1-055.60, H vứt xuống sông (không nhớ vị trí) rồi tiếp tục ngồi lên xe, B vừa điều khiển xe vừa dùng chân đẩy phía sau về phòng trọ của mình.
Cùng ngày, H lấy BKS 74AB - 004.89 (của xe gắn máy trộm cắp vào ngày 09/9/2023 của anh B1 tại thôn L, xã G, huyện G) gắn vào xe mô tô trộm cắp của chị S làm phương tiện đi lại và giao xe gắn máy của mình để H bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại thị trấn H, huyện V với giá 800.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Trộm cắp xe mô tô BKS 74L1-119.54 nhãn hiệu Yamaha Sirius của chị Nguyễn Thị H5 trị giá 3.000.000 đồng.
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 31/10/2023, tại nhà trọ của mình, B rủ H đi trộm cắp thì H đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng, không gắn BKS (xe trộm cắp vào ngày 19/9/2023 của anh M) chở H từ phòng trọ của mình đi theo Quốc lộ A ra hướng huyện V.
Rạng sáng ngày 01/11/2023, cả hai đến địa phận thôn N, xã T, huyện V, B phát hiện xe mô tô BKS 74L1 - 119.54 nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đen - bạc của chị Nguyễn Thị H5 (sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã T, huyện V) dựng ở sân nhà. B dừng xe cách nhà chị H5 khoảng 20m đứng đợi, cảnh giới. H đi đến phát hiện xe không khóa cổ nên dắt đến vị trí của B và ngồi lên xe, B vừa điều khiển xe vừa dùng chân đẩy phía sau xe H đang điều khiển đi về hướng thị trấn H, huyện V thì dừng lại. Cả hai dùng cờ lê 10 đã chuẩn bị sẵn tháo BKS vứt bên đường, H dùng chìa khóa của xe mô tô Yamaha Sirius mở khóa xe mô tô Yamaha Jupiter thì khởi động được rồi điều khiển xe về nhà trọ. Ngày 02/11/2023, H tháo bộ mang xe mô tô đã trộm cắp được bán cho chị H6 rồi điều khiển xe đó về nhà của chị Nguyễn Thị Thu H1 (sinh năm 1979, trú tại thôn L, xã V, huyện V, mẹ của H) cất giấu.
Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 33, 34/KL-ĐGTS ngày 21/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự (HĐĐGTSTTTHS) huyện G có nội dung:
“01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ - đen BKS 74C1-214.78, số khung RLC5SC6J126984, đã qua sử dụng, trị giá còn lại tại thời điểm ngày 19/9/2023 là 3.100.000 đồng; 01 xe gắn máy nhãn hiệu Flyamaha, số loại CKD màu sơn trắng - đen, BKS 74AB-004.89, số khung B7UMFT822225, trị giá còn lại tại thời điểm ngày 09/9/2023 là 6.700.000 đồng”.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1156/KL-ĐGTS ngày 06/12/2023 của HĐĐGTSTTTHS huyện V có nội dung: “01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen - bạc, BKS 74L1-119.54, số máy 5B94002140, số khung RLCJ5B9407Y002140, trị giá còn lại tại thời điểm ngày 01/11/2023 là 3.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 03/01/2024 của HĐĐGTSTTTHS huyện H có nội dung: “01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, BKS 74F1-055.60, số máy 5C63-675284, số khung RLCS5C630CY675228, trị giá còn lại tại thời điểm ngày 09/10/2023 là 3.789.800 đồng”.
Tổng trị giá tài sản các bị can trộm cắp vào các ngày 09, 19/9; 09/10, 01/11/2023 là 16.589.800 đồng (trong đó: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 74C1-214.78 của anh M 3.100.000 đồng; xe gắn máy nhãn hiệu Flyamaha BKS 74AB-004.89 của anh B1 6.700.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 74L1-119.54 của chị S 3.000.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 74F1-055.60 của chị H5 3.789.800 đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 73/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K (KTHS) Công an tỉnh Q có nội dung: “Xe mô tô màu đen gắn biển số 74AB - 004.89 gửi đến giám định có số khung nguyên thủy là “RLCS5C630CY675228”, số máy nguyên thủy là “5C63-675284”.
Tại Bản kết luận giám định số 116/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q có nội dung: “Xe mô tô màu đen, không gắn biển số, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Jupiter, số khung RLCJ5B9407Y002140, Số máy 5B94-002140 gửi đến giám định có số khung nguyên thủy là “RLCJ5B9407Y002140”, số máy nguyên thủy là “5B94-002140”.
Tại Bản kết luận giám định số 122/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q có nội dung: “Xe mô tô màu trắng, không gắn biển số, số khung RLC5SC6J0FY126981 gửi đến giám định có số khung nguyên thủy là “RLCS5C6J0FY126981”, số máy nguyên thủy là “5C6J-126984”.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS-GL ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố các bị cáo Mai Quốc B, Nguyễn Quốc H7 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố đối với các bị cáo. Và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Quốc B 12-15 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 65, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H từ 06-09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12- 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/4/2024).
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và không có ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- - Về xử lý vật chứng: không xem xét.
- - Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc H đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 65, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H từ 03-06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/4/2024).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về tội danh: trong các ngày 09/9/2023, 19/9/2023, 09/10/2023, 01/11/2023 tại địa bàn các huyện G, H, Vĩnh L2, các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Ngô Thanh M và chị Nguyễn Thị H2, anh Võ B1 và chị Nguyễn Thị H3, bà Lê Thị Thùy S và ông Lê Văn H4, chị Nguyễn Thị H5 và anh Hoàng Đức V với tổng trị giá tài sản 16.589.800 đồng (trong đó: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 74C1-214.78 của anh M 3.100.000 đồng; xe gắn máy nhãn hiệu Flyamaha BKS 74AB-004.89 của anh B1 6.700.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 74L1-119.54 của chị S 3.000.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 74F1-055.60 của chị H5 3.789.800 đồng). Hành vi nêu trên của các bị cáo Mai Quốc B, Nguyễn Quốc H7 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
[3]. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, không có người tổ chức, không có sự phân công công việc cụ thể cho mỗi bị cáo. Trong đó, B vừa là người xúi giục, vừa giúp sức cho H7 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 03 vụ tại địa bàn các huyện G, V; giúp sức cho H7 trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện H. H7 vừa là người xúi giục B vừa thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện H và trực tiếp thực hiện trộm cắp tài sản 03 vụ tại địa bàn các huyện G, V. Do đó, vai trò của bị cáo B là cao hơn bị cáo H7.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự mình khai nhận đối với hành vi phạm tội trong các ngày 09/9/2023 và 08/10/2023. Các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, sau khi Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp nhận tin báo của chị Nguyễn Thị H5, các bị cáo đã đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị H5. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Trong vụ án này, các bị cáo đã 04 lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bị cáo B đã 03 lần xúi dục bị cáo H7 là người chưa thành niên phạm tội, bị cáo H7 là người xúi dục bị cáo B (là người chưa thành niên) thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 08/10/2023. Vì vậy, các bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên và xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 BLHS.
Bị cáo B khi thực hiện các hành vi phạm tội vào các ngày 09/9/2023, 19/9/2023, 09/10/2023 và bị cáo H7 thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên, nên cần áp dụng Điều 90, Điều 91 BLHS khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo bồi thường cho anh Võ B1 số tiền 10.000.000 đồng (trong đó B 5.000.000 đồng, H7 5.000.000 đồng), anh Võ B1 đã nhận đủ. Các bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[5]. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm Cơ quan điều tra thu giữ 02 mảnh nhựa màu trắng có hình dạng mang xe mô tô, trên bề mặt in dòng chữ “Sirius” màu đỏ; 02 mảnh nhựa màu trắng có hình dạng ốp nhựa thân xe mô tô, bề mặt in dòng các chữ “Sirius” màu đỏ và “Super sport”; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo 1915, màu đen, số Imeil 1: 867966047073550, số Imel 2: 867966047073543 của Mai Quốc B. Hiện các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về biện pháp ngăn chặn: bị cáo Nguyễn Khắc H được Tòa án xử phạt tù cho hưởng án treo nên hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 10/HSST-LCĐKNCT ngày 25/3/2024 đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Mai Quốc B, Nguyễn Khắc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Quốc B 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/11/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 65, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/4/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Khắc H cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nhựa màu trắng có hình dạng mang xe mô tô, trên bề mặt in dòng chữ “Sirius” màu đỏ; 02 mảnh nhựa màu trắng có hình dạng ốp nhựa thân xe mô tô, bề mặt in dòng các chữ “Sirius” màu đỏ và “Super sport”; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo 1915, màu đen, số Imeil 1: 867966047073550, số Imel 2: 867966047073543 của Mai Quốc B.
Các vật chứng trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Các bị cáo Mai Quốc B, Nguyễn Khắc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nhan Ngọc Đăng |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Quốc B và Nguyễn Khắc H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố về trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS