|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC TỈNH HÒA BÌNH *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày: 07/06/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lự
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Hòa Hiệp và ông Vì Văn Muộn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc tham gia phiên tòa:
Ông Lường Tiến Long – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:
Hà Văn Quang S ngày 19/5/1985 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; Tên gọi khác : Q, N; Nơi cư trú: xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Y (đã chết) và bà Xa Thị N1, sinh năm 1963; Có vợ là Lường Thị K, sinh năm 1985 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006 con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến này 08/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị Q1- Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm pháp lý Nhà nước tỉnh H.
- Bị hại: chị Nguyễn Thị Tuấn A, sinh năm 1977, trú tại xóm Ê, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lường Tiến H, sinh năm 1997, trú tại: xóm Ê, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Lường Thị K, sinh năm 1985, trú tại: xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
- Người làm chứng:
- Anh Hà văn H1, sinh năm 1988, trú tại: Xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
- Anh Hà Văn C, sinh năm 1974, trú tại: xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Bà Xa Thị N1, sinh năm 1963, trú tại: xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
- Chị Lường Thị C1, sinh năm 1978, trú tại: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
- Anh Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1978, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1975, trú tại: tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 5/2023, chị Nguyễn Thị Tuấn A – sinh năm 1977, trú tại xóm Ê, xã T, huyện Đ có chồng là Lường Văn T1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bắt tạm giam để điều tra về tội Huỷ hoại rừng nên muốn xin cho chồng được tại ngoại. Chị A nói chuyện với đồng nghiệp cũ là chị Lường Thị C1 – sinh năm 1978, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ về việc của chồng mình thì được C1 giới thiệu về Hà Văn Q2 – sinh năm 1985, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ là người quen ở cùng xã với C1 có mối quan hệ quen biết với nhiều người. Một vài ngày sau đó, chị A gọi điện thoại cho chị C1 để xin số điện thoại của Q2 để nhờ hỏi giúp về việc của anh T1 bị bắt. Lúc này, C1 đang đi nhờ trên xe ôtô do Q2 điều khiển từ thị trấn Đ về nhà. C1 nghe điện thoại của Anh rồi đưa điện thoại của mình cho Q2 nghe để nói chuyện với chị A thì Q2 hẹn gặp chị A tại nhà của Q2. Đến buổi tối cùng ngày, chị A cùng con trai là Lường Tiến H – sinh năm 1997, trú tại xóm Ê, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình đến nhà của Q2 để nói chuyện. Tại đây, chị A nói về việc chồng mình bị bắt tạm giam về hành vi chặt phá rừng phòng hộ, muốn xin cho chồng được tại ngoại. Sau đó Q2 có nói: “sao không bảo em sớm, để bị bắt thế này, em có quen một số cán bộ em sẽ lo được cho chồng chị được tại ngoại”. Sau đó, Q2 hẹn hôm sau cùng nhau đi để xin tại ngoại cho canh T1 nhưng chị A phải chuẩn bị tiền để Q2 đưa đi xin tại ngoại cho T1. Do chị A bận nên cháu H đi cùng Q2 đến thành phố H nhưng không gặp ai để xin tại ngoại cho T1 trong ngày hôm đó. Sau đó, với việc đưa ra thông tin gian dối về việc có khả năng xin cho Lường Văn T1 được tại ngoại, Hà Văn Q2 đã chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Tuấn A cụ thể như sau:
- Ngày 11/5/2023, Hà Văn Q2 đưa hai mẹ con chị A đi đến thị trấn Đ để lo việc tại ngoại cho chồng. Cùng đi có anh Hà Văn H3 – sinh năm 1988, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ là anh họ của Q2 đi nhờ xe đến thành phố H. Khi đến khu vực cổng trường T4 cạnh Công an huyện Đ thì Q2 và mẹ con chị A xuống xe nói chuyện. Q2 bảo chị A làm 02 phong bì một phong bì để số tiền là 5.000.000 đồng và một phong bì để số tiền là 3.000.000 đồng. Q2 bảo chị A đưa 01 phong bì có số tiền là 5.000.000 đồng để đi ra thành phố H xin cho T1 được tại ngoại còn hai mẹ con chị A chờ mình ở thị trấn Đ. Anh Hà Văn H3 ở trên xe không nghe được nội dung nói chuyện và không biết việc Q2 cầm tiền của chị A. Sau đó Q2 chở H3 đi đến thành phố H để chơi, không gặp gỡ ai để xin tại ngoại cho chồng chị A như đã hứa hẹn. Đến chiều cùng ngày Q2 quay về đón hai mẹ con chị A, Q2 bảo chị anh đưa cho Q2 phong bì có số tiền là 3.000.000 đồng rồi nói với chị A là lên gặp Công an. Sau đó Q2 đi lên Công an huyện và đứng chơi ở đó một lúc không gặp ai rồi quay lại nói với chị A bảo họ cầm rồi, yên tâm rồi cùng nhau về nhà. Thực tế bị cáo không gặp ai, không đưa tiền cho ai khác mà Q2 đã chiếm đoạt số tiền trong 2 phong bì đó để chi tiêu cá nhân.
- Ngày 13/5/2023, Q2 bảo chị A phải đi tiếp và đón chị A cùng đi, trên xe ôtô có cả mẹ của Q2 là bà Xa Thị N1 - sinh năm 1963, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, còn cháu H thì đi xe máy phía sau. Khi đi đến khu vực cửa hàng X trên đường H thuộc phường H, thành phố H thì bà N1 xuống xe vào quán ăn cơm trước để sau đó đón xe khách đi tỉnh Thái Bình chơi. Q2 bảo chị A đưa số tiền 20.000.000 đồng để đi lo việc xin tại ngoại cho anh T1. Chị A đồng ý và bảo Hoàng đi rút tiền rồi đưa cho Q2. Sau khi nhận tiền một mình Q2 điều khiển xe ôtô đi loanh quanh thành phố H để giả vờ lo việc xin tại ngoại cho T1 sau đó chiếm đoạt số tiền trên. Khoảng 20 phút sau thì Q2 quay lại ăn cơm cùng mẹ con chị A rồi cùng đi về.
- Ngày 19/05/2023, Q2 tiếp tục bảo chị A đi đến thị trấn Đ gặp nhau ở đường phía sau Huyện Ủ rồi cùng Hà Văn H3 và Hà Văn C – sinh năm 1974, trú tại xóm C, xã T là hai người đi nhờ xe ô tô của Q2 đến thành phố H để xin cấp đổi bằng lái xe. Khi đến khu vực sân vận động huyện Đ thì Q2 bảo anh H3 và anh C xuống xe ngồi uống nước đợi rồi đi đến nơi hẹn chị A. Khi gặp chị A, Q2 nói: “Người ta hứa thứ 6 này anh T1 được ra” và yêu cầu chị A đưa số tiền là 45.000.000 đồng, chị A đồng ý và bảo Hoàng đi rút tiền về đưa cho Q2. Sau đó, Q2 tiếp tục đi đến thành phố H chơi, không gặp gỡ ai để xin tại ngoại cho T1 và chiếm đoạt số tiền trên.
- Đến ngày 24/05/2023, do cần tiền chi tiêu nên Q2 tiếp tục yêu cầu chị A chuyển khoản số tiền là 1.500.000 đồng để lo xin cho T1 tại ngoại. Sau đó, Q2 đi đến cửa hàng bán tạp hoá của anh Nguyễn Thanh H2 – sinh năm 1978, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ để nhờ nhận tiền rồi có cung cấp số tài khoản của anh H2 cho chị A để chuyển khoản. Nhận được tiền chuyển khoản Q2 trả phí cho anh H2 số tiền 15.000 đồng,
- Ngày 01/06/2023, lúc này Q2 đang ở thành phố H do cần tiền chi tiêu nên lại tiếp tục yêu cầu chị A chuyển khoản thêm 6.000.000 đồng để lo việc xin cho T1 được tại ngoại. Lúc này, do không có tài khoản ngân hàng nên Q2 đi đến cửa hàng buôn bán điện thoại, vàng bạc của chị Nguyễn Thị T – sinh năm 1975, trú tại tổ A, phường H, thành phố H nhờ nhận tiền hộ qua tài khoản rồi Q2 cung cấp số tài khoản của chị T cho chị A để chuyển tiền. Nhận được tiền chuyển khoản Q2 trả phí chị T số tiền 60.000 đồng.
- Ngoài ra Q2 có yêu cầu chị A đưa cho Q2 số tiền là 1.000.000 đồng vào một ngày cả Q2 và chị A không nhớ rõ để lo xin cho T1 tại ngoại rồi chiếm đoạt số tiền đó.
Tuy không có khả năng, ảnh hưởng hay quan hệ nào có thể xin cho Lường Văn T2 tại ngoại nhưng Hà Văn Q2 đã đưa ra thông tin gian dối với chị Nguyễn Thị Tuấn A để chiếm đoạt tổng số tiền là 81.500.000 đồng (T3 mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Đến ngày 16/6/2023 Lường Văn T1 được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam sang bảo lĩnh do Chị Nguyễn Thị Tuấn A và cháu Lường Tiến H viết đơn xin bảo lĩnh cho T1. Lúc này chị Nguyễn Thị Tuấn A mới biết bị Hà Văn Q2 lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đã nhiều lần đòi Q2 trả lại tiền đã nhận của chị A. Tính đến ngày 03/01/2024 Hà Văn Q2 mới trả lại chị A số tiền 37.000.000 đồng nhưng thường không liên lạc được và không có mặt ở địa phương nên chị Nguyễn Thị Tuấn A đã tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hà Văn Q2.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên toà, Hà Văn Q2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Tuấn A trong các ngày từ 11/5/2023 đến 01/6/2023 phù hợp với các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 08/05/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Hà Văn Q2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố theo tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, Điều 65 và điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.
- Về hình phạt bổ sung: Đai diện Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Tuấn A số tiền là 85.500.000 đồng.
Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí đề nghị: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và những người có liên quan.
Trong phần tranh luận, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và không có lời tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét trong quá trình điều tra Hà Văn Q2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì thêm chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Xét hành vi và các Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng không có khiếu nại gì về các hành vi và quyết định tố tụng đó. Do vậy, hành vi và quyết định tố tụng trên là hợp pháp.
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn Q2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử nhận thấy rằng: Bị cáo là lao động tự do không có khả năng, không có mối quan hệ nào với người có thẩm quyền trong việc giải quyết vụ án hình sự. Nhưng bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối là có thể thực hiện được việc lo cho chồng chị Nguyễn Thị Tuấn A được tại ngoại nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị A. Trong các ngày từ 11/5/2023 đến 01/6/2023 tại thị trấn Đ, huyện Đ và tại thành phố H, Hà Văn Q2 đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Tuấn A 7 lần với tổng số tiền 81.500.000đ (tám mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên Q2 không thực hiện việc xin cho chồng của chị Nguyễn Thị Tuấn A được tại ngoại mà bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Hành vi của Hà Văn Q2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Hiến pháp và Pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc truy tố bị cáo Hà văn Q3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo sử dụng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Tuấn A tổng số tiền 81.500.000 đồng. Đồng thời với 5 lần nhận tiền mặt và 2 lần chuyển khoản trong đó có 5 lần đủ yếu tố cấu thành tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản độc lập, do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Hà Văn Q2 đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội do mình thực hiện; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường số tiền 81.500.000 đồng đã chiếm đoạt và thoả thuận bồi thường thêm số tiền 4.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thị Tuấn A; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo trong xã. Do đó HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
[4] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo là lao động chính trong gia đình có mẹ già và 03 con chưa thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi bị cáo đang cư trú để quản lý, giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Do đó, mức phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo 60 tháng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo trong xã nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với chị Lường Thị C1 là người giới thiệu bị hại Nguyễn Thị Tuấn A cho bị cáo Hà Văn Q2 vì nghĩ Q2 có nhiều quan hệ xã hội có thể hỏi giúp chị A trong việc xin giảm nhẹ cho anh Lường Văn T1 mà không biết động cơ, mục đích, không biết được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hà Văn Q2, không được hưởng lợi gì từ hành vi của Hà Văn Q2. Do đó Lường Thị C1 không phải chịu trách nhiệm liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hà Văn Q2.
[7] Trong một số lần nhận tiền của bị hại Nguyễn Thị Tuấn A có anh Hà Văn H3, anh Hà Văn C và bà Xa Thị N1 đi cùng trên xe ôtô của Q2 đến thành phố H. Tuy nhiên khi Q2 nói chuyện với chị A và đưa nhận tiền thì những người này không biết, không được hưởng lợi gì từ Q2 nên cũng không phải chịu trách nhiệm liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hà Văn Q2.
[8] Anh Nguyễn Thanh H2 kinh doanh cửa hàng tạp hóa, chị Nguyễn Thị T kinh doanh cửa hàng điện thoại nhưng đều có làm dịch vụ nhận chuyển khoản tiền. Bị cáo Hà Văn Q2 đã sử dụng số tài khoản của anh H2, chị T nhận tiền lừa đảo được của bị hại và trả phí dịch vụ cho những người này mà cả anh H2 và chị T không biết động cơ, mục đích, không biết được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hà Văn Q2. Do đó anh Nguyễn Thanh H2 và chị Nguyễn Thị T không phải chịu trách nhiệm liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hà Văn Q2.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Tuấn A số tiền là 85.500.000 đồng. Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Q2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt bị cáo: H (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 ( sáu mươi ) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hà Văn Q2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Hà Văn Q2 thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo Hà Văn Q2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Lự |
Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 10/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Quang S lừa đảo chiếm đoạt tài sản
