TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HS - ST Ngày 04/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Minh Phương
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tuấn
- Ông Hoàng Đăng Đán
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Nguyễn Văn Phúc - Thư ký
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 04/12/2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST- HS ngày 22/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn S - sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh
Nơi tạm trú: Thôn Đ, xã V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S1 và con bà Phùng Thị L; Có vợ chưa có con; Tiền án: Bản án số: 114/2013/HS -ST ngày 27/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, xử phạt Nguyễn Văn S 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, phạt bổ sung: 5.000.000đ; Hiện S chưa chấp hành xong phần dân sự của bản án; Bản án số: 125 ngày 16/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt S 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 173 BLHS. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2024; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số: 05/2011/HS-ST ngày 25/02/2011 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, xử phạt Nguyễn Văn S 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. S đã chấp hành xong bản án ngày 21/01/2012. (Đã được xóa án tích); Bản án số: 22/2012/HS - ST ngày 27/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, xử phạt Nguyễn Văn S 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. Ngày 12/7/2018, chấp hành xong toàn bộ bản án. (Đã được xóa án tích); Bản án số: 02/2014/HS - ST ngày 20/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, xử phạt Nguyễn Văn S 03 năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với bản án số 112 ngày 27/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, buộc S phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 06 tháng tù. S đã chấp hành xong bản án ngày 26/02/2019.( Đã được xóa án tích)
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần)
2. Nguyễn Văn K - sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ tên tuổi) và con bà Nguyễn Thị M; Có vợ và 3 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số: 99/2011/HS -ST ngày 26/5/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, xử phạt Nguyễn Văn K 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 04/3/2012. (Đã được xóa án tích); Bản số 45 ngày 12/8/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xử phạt K 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 04/9/2015 (Đã được xóa án tích)
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần)
Bị hại: Bùi Thị L1 – Sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Trí Q – CB phụ trách tin học của TAND huyện Gia Bình (có mặt tại điểm cầu trung tâm)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn K có quen biết nhau từ năm 2019. Khoảng hơn 08 giờ ngày 26/7/2024, K đi đến nhà trọ của S ở thôn Đ, xã V. Tại đây, S và K có rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Trước khi đi, S mang theo 01 chiếc kìm nhỏ có phần tay cầm bọc nhựa màu vàng; 01 chiếc tô vít 04 cạnh có phần chuôi cầm bằng nhựa xọc màu xanh đen; 01 cuộn băng dính 02 mặt và 01 BKS 29A1-263.86 để vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, số máy JC7GE0006089, số khung RLHJC7606GZ001932, gắn BKS 14Z1-163.65 để làm công cụ đi trộm cắp tài sản. Sau đó K điều khiển chiếc xe mô tô trên chở S đi đến địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Trên đường đi S cùng K sử dụng băng dính đã mang theo dán BKS 29A1-263.86 chèn lên BKS 14Z1-163.65 để tránh bị phát hiện.
Khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, S và K đi đến quốc lộ A, thuộc địa phận thôn C, Xã N, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, quan sát thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave BKS 99H1-409.61 của chị Bùi Thị L1 dựng trong sân, phía trước xưởng sản xuất nước yến của chị Nguyễn Thị H ở thôn C, xã N, huyện G. S và K quan sát thấy xe không có người trông giữ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. Vì vậy K dừng xe ở gần vị trí chiếc xe Wave BKS 99H1-409.61 để S đi bộ xuống trộm cắp chiếc xe, còn K đứng ngoài cảnh giới. S dùng tô vít mang theo tháo mặt nạ của xe, dùng kìm cắt dây điện của xe để nổ máy rồi S điều khiển chiếc xe trộm cắp được về khu vực chân cầu Đ thuộc địa phận phường M, thị xã Đ và bán cho đối tượng tên “V”, tên thường gọi “Vũ N” với giá 11.300.000đ. Số tiền này S chia cho K 5.500.000đ, S cầm 5.800.000đ. Toàn bộ số tiền này S và K đã tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 26/7/2024, chị Bùi Thị L1 có đơn trình báo gửi Công an huyện G về việc bị trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave BKS 99H1-409.61.
Ngày 27/7/2024, S và K đã đến. Cơ quan CSĐT- Công an huyện G xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 21/KL-HĐĐG ngày 29/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave BKS 99H1-409.61, số máy JA39E2899504, số khung RLHIA3926NY465141, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 26/7/2024 có giá trị là 15.390.000₫
Tại bản cáo trạng số: 67/CT – VKSGB ngày 21/10/2024 của VKSND huyện Gia Bình đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên toà hôm nay đại diện VKSND huyện Gia Bình sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản";
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/7/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K từ 18 đến 22 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/7/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam các bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cắt dây điện có phần tay cầm bọc nhựa màu vàng;; 01 cuôn băng dính hai mặt màu đen đã qua sử dụng 01 tuốc nơ vít bốn cạnh, có phần chuôi cầm tay bằng nhựa xọc màu xanh đen; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO mặt lưng màu xanh đã hư hỏng không sử dụng được, trong máy lắp thẻ sim số 0768368838; 01 biển kiểm soát mô tô 29A1 – 263.86.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại OPPO A57 mặt lưng màu xanh, đã qua sử dụng, trong máy lắp thẻ sim số 0964839534, số IMEI1: 866167060388733, số IMEI2: 866167060388725.
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Các bị cáo nhất trí với bản luận tội, không tranh luận gì thêm.
Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Bình, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của bị hại, của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/7/2024, tại địa phận thôn C, xã N, huyện G, tỉnh, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn K đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, S và K đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS14Z1-163.65 của chị Bùi Thị L1, trị giá chiếc xe S và K trộm cắp là: 15.390.000đ. Năm 2021 bị cáo Nguyễn Văn S bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nay chưa được xóa án tích. Do đó đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, an ninh, an toàn trên địa bàn dân cư. Bản thân các bị cáo đều là đối tượng có nhân thân xấu, chỉ vì muốn có tiền ăn tiêu mà bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Điều đó cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, coi thường pháp luật nên cần áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc là cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp bị cáo có thời gian cải tạo, tu dưỡng thành người có ích cho xã hội.
Xét về vị trí vai trò thì các bị cáo là đồng phạm của nhau, không có kẻ chủ mưu cầm đầu. Tuy nhiên S là đối tượng có nhân thân xấu hơn, hiện có 2 tiền án và là đối tượng trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản sau khi trộm cắp được nên S đóng vai trò cao hơn so với bị cáo K.
Xét các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã nhờ gia đình lấy tiền của các bị cáo bồi thường đầy đủ cho bị hại. Nên khi lượng hình cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này còn có đối tượng có tên V (Vũ N) - là người đã tiêu thụ chiếc xe S và K trộm cắp. Do S không biết nhân thân, lai lịch của đối tượng V nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện G chưa đủ căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo S và K đã nhờ vợ của các bị cáo dùng tiền của của các bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại. Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô Honda Future, số máy JC7GE0006089, số khung RLHJC7606GZ001932. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại địa bàn huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã bàn giao chiếc xe trên cho Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với BKS 14Z1-163.65, S trình bày mua trên mạng internet. Quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu ban đầu của chiếc xe mô tô mang BKS 14Z1-163.65 là chị Lê Thị T, sinh năm 1975, HKTT: khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Năm 2018, chị T đã bán chiếc xe mô tô BKS 14Z1-163.65 cho một cửa hàng sửa chữa xe mô tô tại thành phố B tuy nhiên chị T không còn nhớ tên cửa hàng và địa chỉ cụ thể nên chưa xác định được chủ sở hữu của biển kiểm soát xe mô tô 14Z1-163.65. Vì vậy cơ quan sẽ tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với 01 kìm cắt dây điện có phần tay cầm bọc nhựa màu vàng; 01 cuộn băng dính hai mặt màu đen đã qua sử dụng; 01 tuốc nơ vít bốn cạnh, có phần chuôi cầm tay bằng nhựa xọc màu xanh đen là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại OPPO A57 mặt lưng màu xanh là điện thoại của S được S dùng liên lạc để tiêu thụ tài sản trộm cắp được nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO mặt lưng màu xanh đã hư hỏng không sử dụng được là điện thoại của K không liên quan đến việc phạm tội nhưng K không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc biển kiểm soát mô tô 29A1 – 263.86 là biển các bị cáo dùng để gắn lên xe khi đi trộm cáp, biển kiểm soát này không có trên hệ thống quản lý nên cần tịch thu tiêu hủy
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/7/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/7/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam các bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cắt dây điện có phần tay cầm bọc nhựa màu vàng;; 01 cuôn băng dính hai mặt màu đen đã qua sử dụng 01 tuốc nơ vít bốn cạnh, có phần chuôi cầm tay bằng nhựa xọc màu xanh đen; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO mặt lưng màu xanh đã hư hỏng không sử dụng được, trong máy lắp thẻ sim số 0768368838; 01 biển kiểm soát mô tô 29A1 – 263.86
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại OPPO A57 mặt lưng màu xanh, đã qua sử dụng, trong máy lắp thẻ sim số 0964839534, số IMEI1: 866167060388733, số IMEI2: 866167060388725.
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án (hoặc niêm yết bản án)
Nơi nhận;
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Minh Phương |
Bản án số 10/2024/HS - ST ngày 04/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 10/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S - TCTS
