Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN SƠN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày: 03/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bàn Hữu Văn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Linh

2. Ông Vi Văn Thịnh

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Bình- Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Phạm Trọng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:10/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 6 năm 2024; Đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên Hà Đức M, sinh năm 1998; tại huyện BT, tỉnh Thanh Hoá; Nơi ĐKHKTT: Xã VN, huyện BT, tỉnh Thanh Hoá; Nơi ở hiện nay: Thôn CM, xã VN, huyện BT, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn N, sinh năm 1972; con bà Hà Thị M, sinh năm 1974; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
  2. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/2/2024 đến ngày 24/2/2024 thì chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quan Sơn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên Hà Đức C, sinh năm 1988; tại huyện BT, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Xã VN, huyện BT, tỉnh Thanh Hoá; Nơi ở hiện nay: Thôn CM, xã VN, huyện BT, tỉnh Thanh Hoá;
  4. Là Đảng viên Đảng CS Việt Nam;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Thanh D (đã chết); con bà Lò Thị T, sinh năm 1961; Gia đình bị cáo có 04 anh em bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ Ngân Thị K, sinh năm 1990 và 01 con sinh năm 1993;

    Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/2/2024 đến ngày 24/2/2024 thì chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quan Sơn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 20 phút, ngày 21/2/2024, tổ công tác Công an huyện Quan Sơn phối hợp với Phòng CSĐT TP về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa và Công an thị trấn SL, huyện Quan Sơn trong quá trình tuần tra, kiểm soát tại khu phố B, thị trấn SL phát hiện, bắt quả tang Hà Đức M và Hà Đức C cung trú tại thôn CM, xã VN, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ bên trong khẩu trang đang đeo ở mặt Hà Đức M 01 túi Nilon màu đen, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục và 01 túi Nilon màu trắng, bên trong có chứa 02 viên nén màu đỏ, bề mặt mỗi viên in chữ “WY” Hà Đức M khai nhận số tang vật trên là ma túy. Ngoài ra cơ quan CSĐT còn tạm giữ của Hà Đức M 01 xe Mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave Alpha màu xanh, BKS: 36G5-342.19 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36004066 mang tên Hà Đức M.

Trên cơ sở của bản kết luận giám định kỹ thuật hình sự số: 693/KL-KTHS ngày 23/2/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

  • Chất bột màu trắng ngà dạng cục của phong bì niêm phong gửi giám định Là ma túy, có tổng khối lượng 1,597g (một phẩy năm chín bảy gam) loại Heroine;
  • 02(hai) viên nén màu đỏ, bề mặt mỗi viên in chữ “WY” của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,191g (không phẩy một chín một gam) loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra các bị cáo Hà Văn M và Hà Đức C khai nhận đều là những đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng bị cáo Hà Đức M không có giấy phép lái xe, biết bị cáo Hà Đức C có giấy phép lái xe nên khoảng 08 giờ 15 phút ngày 21/2/2024, M tìm gặp C để nhờ C chở lên huyện QS với mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Do là anh em họ hàng lại thỉnh thoảng sử dụng ma túy cùng nhau nên C đồng ý sau đó C điều khiển xe mô tô chở M lên huyện QS đi đến khu vực bản XN, xã ST, huyện QS, tỉnh Thanh Hóa, khi tới nơi Hà Đức M nói với Hà Đức C đứng đợi ở xe còn M đi bộ tìm mua ma túy, M gặp một người đàn ông dân tộc Mông (M không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi người này có biết ai bán ma túy không, người đàn ông này hỏi M mua bao nhiêu tiền, M nói mua 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), rồi đưa cho người đàn ông đó 300.000đ, người này nói với M đợi và một lúc sau thì quay lại đưa cho M 01 túi Nilon màu đen, bên trong có chứa Heroine và 02 viên ma túy tổng hợp, M nhận ma túy rồi quay lại chỗ C đang đứng đợi để đi về. Khi về đến khu vực đầu dốc bản Mông, M nói với C dừng xe lại để M sử dụng ma túy rồi M cất số ma túy còn lại vào trong chiếc khẩu trang đang đeo rồi đi về đến khu phố B, thị trấn SL, huyện QS thì bị lực lượng chức năng bắt giữ.

Vật chứng vụ án: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong; 1,484g (một phẩy bốn tám bốn gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn và 0,155g(không phẩy một năm năm gam) chất bột màu đỏ. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phong kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Lưu Bình Nguyên, Hoàng Văn Hải và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

  • 01(một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave ALPHA màu xanh đen bạc, mang BKS: 36G5-342.19, số máy: JA39E2520135, số khung: RLHJA3923NY024163.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Hà Đức M do M không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện QS tiếp tục điều tra, xác minh có căn cứ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số: 11/CT-VKSQS ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá truy tố các bị cáo Hà Đức M, Hà Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Hà Đức M, Hà Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về điều luật áp đụng, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt mức án đối với bị cáo Hà Đức M từ 24 tháng đến 30 tháng tù có thời hạn; Xử phạt bị cáo Hà Đức C mức án từ 20 tháng đến 24 tháng tù có thời hạn không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng vụ án sau giám định hiện đang bảo quản tại Chị cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Về tài sản, đồ vật: 01(một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave ANPHA màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 36G5-342.19, số máy: JA39E2520135. Số khung: RLHJA3923NY024163; đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luậ hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Hà Đức M.

Về án phí, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo Hà Đức M, Hà Đức C khai nhận hành vi phạm tội, các bị cáo không ý kiến gì khác, không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh và các vấn đề khác. Nói lời nói sau cùng các bị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về trình tự tố tụng vụ án: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
  2. Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hà Đức M, Hà Đức C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như đã khai tại cơ quan điều tra, Cụ thể Hà Đức M và Hà Đức C đều là những đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng bị cáo Hà Đức M không có giấy phép lái xe, biết bị cáo C có giấy phép lái xe nên M tìm gặp C để nhờ C chở bằng xe mô tô lên khu vực bản XN, xã ST huyện QS, tỉnh Thanh Hóa, với mục đích là mua ma túy để sử dụng; khi tới nơi Hà Đức M gặp một người đàn ông dân tộc Mông (M không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi người này có biết ai bán ma túy không, người đàn ông này hỏi M mua bao nhiêu tiền, M nói mua 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng), rồi đưa cho người đàn ông đó 300.000đ, người này nói với M đợi và một lúc sau thì quay lại đưa cho M 01 túi Nilon màu đen, bên trong có chứa Heroine và 02 viên ma túy tổng hợp, M nhận ma túy rồi quay lại chỗ C đang đứng đợi để đi về. Khi về đến khu vực đầu dốc bản Mông, M nói với C dừng xe lại để M sử dụng ma túy rồi M cất số ma túy còn lại vào trong chiếc khẩu trang đang đeo rồi đi về đến khu phố B, thị trấn SL, huyện QS thì bị bắt giữ.
  3. Các bị cáo M, C khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

    Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 20 phút ngày 21 tháng 2 năm 2024; biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ lập hồi 17 giờ 05 phút ngày 21 tháng 2 năm 2024 và Bản kết luận giám định kỹ thuật hình sự số: 693/KL-KTHS ngày 23 tháng 2 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

    • Chất bột màu trắng ngà dạng cục của phong bì niêm phong gửi giám định Là ma túy, có tổng khối lượng 1,597g (một phẩy năm chín bảy gam) loại Heroine;
    • 02(hai) viên nén màu đỏ, bề mặt mỗi viên in chữ “WY” của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,191g (không phẩy một chín một gam) loại Methamphetamine.

    Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ và lời khai trình của bị cáo tại phiên tòa có đủ cở sở khẳng định các bị cáo Hà Đức M, Hà Đức C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  4. Khung hình phạt áp dụng: Các bị cáo tàng trữ trái phép hai chất ma túy có tổng cộng khối lượng 1,788g (một phẩy bảy tám tám gam) trong đó gồm 1,597g (một phẩy năm chín bảy gam) loại Heroine và 0,191g (không phẩy một chín một gam)loại Methamphetamine; các bị cáo đã phạm vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù có thời hạn từ 01 năm đến 05 năm, là sự nghiêm khắc của pháp luật Nhà nước nhằm trừng phạt người phạm tội nói chung và đặc biệt tội phạm về ma túy đã và đang làm ảnh hưởng sấu đến mọi mặt đời sống xã hội, tội phạm ma túy làm reo rắc theo nhiều tệ nạn xã hội và làm phát sinh tội phạm nghiêm trọng khác gây hoang mang, lo lắng trong địa bàn dân cư, đe dọa đến tình hình an ninh, trật tự án toàn xã hội, cần thiết phải xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.

    Xét vị trí, vai trò của các bị cáo, Hà Đức M là người khởi xướng, trực tiếp dùng tiền và phương tiện của bản thân để thực hiện tội phạm; Hà Đức C là đối tượng nghiện ma túy, bản thân C biết được M nhờ chở xe đi mua ma túy nhưng vẫn giúp do vậy Hà Đức M có vai trò lớn hơn Hà Đức C.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

    Các bị cáo không có tiền án, tiền sự; các bị cáo M, C có đủ năng lực hành vi dân sự nhận thức biết rõ tác hại của ma tuý là loại hàng hóa Nhà nước nghiêm cấm vận chuyển, tàng trữ, sử dụng; bị cáo bất chấp sự lên án của xã hội và quy định của pháp luật đã tàng trữ ma tuý để sử dụng thoả mãn cho nhu cầu bản thân; bị cáo là người có kiến thức hiểu biết về tác hại của ma túy song lại sống thiếu trách nhiệm với bản thân, lao vào con đường nghiện ma túy; Do vậy Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc và lên một mức án phù với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy hiện nay.

  5. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy rằng các bị cáo không có tài sản có giá trị, công việc, thu nhập không ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo là phù hợp.
  6. Về vật chứng vụ án: Được niêm phong đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn là các mẫu vật còn lại sau giám định kỹ thuật hình sự. Vật chứng vụ án là ma túy, thuộc loại hàng hoá nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành; Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên bố tịch thu, tiêu hủy.
  7. Tài sản đồ vật thu giữ của bị cáo Hà Đức Mgồm: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave ALPHA màu xanh đen bạc, mang BKS: 36G5-342.19, số máy: JA39E2520135, số khung: RLHJA3923NY024163; Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Hà Đức M 01 xe Mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave Alpha màu xanh, BKS: 36G5-342.19 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36004066 mang tên Hà Đức M.

  8. Về án phí: Buộc các bị cáo Hà Đức M, Hà Đức C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Hà Đức M, Hà Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Hà Đức M 24(Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 2 năm 2024; Tiếp tục tạm giam bị cáo Hà Đức M 45(Bốn lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Hà Đức C 20(Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 2 năm 2024; Tiếp tục tạm giam bị cáo Hà Đức C 45(Bốn lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án hình sự.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo M, C.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong; 1,484g (một phẩy bốn tám bốn gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn và 0,155g(không phẩy một năm năm gam) chất bột màu đỏ. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phong kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kin, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Lưu Bình Nguyên, Hoàng Văn Hải và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

    Tuyên trả lại cho bị cáo Hà Đức M 01(một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave ALPHA màu xanh đen bạc, mang BKS: 36G5-342.19, số máy: JA39E2520135, số khung:RLHJA3923NY024163 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36004066 mang tên Hà Đức M.

    Vật chứng vụ án đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 20 phút, ngày 23 tháng 5 năm 2024.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hà Đức M, Hà Đức C mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên bố các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Quan Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Quan Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Quan Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bàn Hữu Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger