Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC THỌ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/04/2024

“Về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đình Thông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Xuân Toàn và ông Nguyễn Văn Luận.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Na - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 04 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu L, sinh năm 1997; nơi cư trú: K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ liên hệ: Số nhà A, ngõ D đường V, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diệu L trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diệu L đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Hồng T vào ngày 17 tháng 02 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, dựa trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Nguyễn Hồng T sống hòa thuận được khoảng 02 năm thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi vã nhau và không thể chia sẻ, thấu hiểu nhau. Nhiều lần chị L và anh T đã hòa giải với nhau nhưng vẫn không thể hàn gắn nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm tháng 8 năm 2023 cho đến nay và không còn liên lạc gì với nhau. Sau thời gian ly thân xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hồng T và đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt.
  2. Về con chung và cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Nguyễn Hồng T có với nhau một con chung tên là Nguyễn B, sinh ngày 12/07/2021, hiện nay con đang sống với chị L. Nay ly hôn chị Nguyễn Thị Diệu L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn B đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu Nguyễn Hồng T phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Diệu L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn trình bày ý kiến đề ngày 07/03/2024 anh Nguyễn Hồng T trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở tự nguyện, không bị ai đe dọa, cưỡng ép anh Nguyễn Hồng T và chị Nguyễn Thị Diệu L đã kết hôn ngày 17 tháng 02 năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được 02 năm và phát sinh mâu thuẫn từ tháng 09 năm 2021 đến nay. Trong quá trình chung sống, anh T và chị L phát sinh rất nhiều mâu thuẫn nên không còn yêu thương nhau. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Mặc dù đã hòa giải nhiều lần nhưng do cái tôi và sự khác biệt trong tính cách nên chúng tôi vẫn không thể hàn gắn. Do đó anh T và chị L đã sống ly thân từ tháng 08/2023 đến nay. Hiện nay, chị Nguyễn Thị Diệu L yêu cầu ly hôn với Nguyễn Hồng T nên anh Nguyễn Hồng T đồng ý bởi vì cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không còn và đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt.
  2. Về con chung và cấp dưỡng: Trong thời kỳ hôn nhân anh Nguyễn Hồng T và chị Nguyễn Thị Diệu L có với nhau một con chung tên là Nguyễn B, sinh ngày 12/07/2021, hiện nay con đang sống với chị L. Anh Nguyễn Hồng T đồng ý để chị Nguyễn Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn B đến khi con đủ 18 tuổi và đồng ý không cấp dưỡng theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị Diệu L nhưng sẽ chu cấp cho con khi có khó khăn.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Hồng T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Hồng T dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Giấy triệu tập đến làm việc; Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt và có đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm đề nghị:

* Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

* Việc giải quyết vụ án:

  • -Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Diệu L được ly hôn anhNguyễn Hồng T
  • -Về con chung và cấp dưỡng: Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung là cháu Nguyễn B, sinh ngày 12/07/2021 cho chị Nguyễn Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
  • -Về tài sản và khoản nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xem xét.
  • -Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc chị Nguyễn Thị Diệu L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu có tại hồ sơ cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Nguyễn Hồng T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Qua xác minh tại nơi cư trú của bị đơn anh Nguyễn Hồng T xét thấy: Tuy anh Phạm Hồng T1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nhưng anh Nguyễn Hồng T không có mặt tại địa phương. Do đó, Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diệu L cung cấp địa chỉ hiện tại của bị đơn anh Nguyễn Hồng T nên chị Nguyễn Thị Diệu L đã cung cấp thông tin địa chỉ hiện tại của anh Nguyễn Hồng T ở số nhà A, ngõ D đường V, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, anh T không đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương khác nên trên cơ sở đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Hồng T và anh Nguyễn Hồng T cũng đã gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diệu L cho Tòa án. Do đó, việc anh T đang sông tại quận B, thành phố Hà Nội không làm thay đổi thẩm quyền của Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Hồng T và chị Nguyễn Thị Diệu L đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt gửi về cho Tòa án. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án các bên đều đã trình bày ý kiến về các vấn đề tranh chấp nên việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do vậy căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Nguyễn Hồng T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diệu L kết hôn với anh Nguyễn Hồng T trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị ai lừa dối hay ép buộc, có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 17 tháng 02 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2021 ngày 17/02/2021 do Ủy ban nhân dân xã B cấp cho chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Nguyễn Hồng T và đã được chị L giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, sẻ chia cùng nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ năm tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án cả chị L và anh T đều thừa nhận từ khi phát sinh mâu thuẫn vợ chồng đã nhiều lần hòa giải với nhau nhưng do sự khác biệt trong tính cách nên vẫn không thể hàn gắn và hiện nay tình cảm của vợ chồng cũng không còn. Không những vậy, trong suốt thời gian sống ly thân chị L và anh T vẫn không đưa ra được biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm của vợ chồng và đều đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Nguyễn Thị Diệu L được ly hôn anh Nguyễn Hồng T.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Nguyễn Hồng T có với nhau một con chung tên là Nguyễn B, sinh ngày 12/07/2021. Nay ly hôn chị L có nguyện được nuôi con và anh Nguyễn Hồng T cũng đồng ý để chị Nguyễn Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn B đến khi con đủ 18 tuổi. Do cháu Nguyễn B còn dưới 07 tuổi nên Tòa án không xem xét lấy nguyện vọng của con mà cân nhắc về quyền lợi mọi mặt của con và nguyện vọng của các bên đương sự để xem xét.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyện vọng nuôi giao con cho chị Nguyễn Thị Diệu L của các bên đương sự là hoàn toàn chính đáng. Từ khi anh chị ly thân cho đến nay, chị Nguyễn Thị Diệu L là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và cháu Nguyễn B đã được chị L chăm sóc, giáo dục, học hành đảm bảo. Ngoài ra, chị L là người có công việc, thu nhập ổn định đủ để lo cho con có cuộc sống lành mạnh, phát triển toàn diện về mọi mặt. Do đó, để tiếp tục đảm bảo cuộc sống và tâm lý ổn định cho cháu Nguyễn B, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con cho chị Nguyễn Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là có cơ sở theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh Nguyễn Hồng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

[4] Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Diệu L không yêu cầu anh Nguyễn Hồng T phải cấp dưỡng nuôi con vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Nguyễn Hồng T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diệu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Diệu L, anh Nguyễn Hồng T được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diệu L, cho chị Nguyễn Thị Diệu L được ly hôn với anh Nguyễn Hồng T.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn B, sinh ngày 12/07/2021 cho chị Nguyễn Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Hồng T không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
  3. Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Diệu L không yêu cầu anh Nguyễn Hồng T phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
  4. Chị Nguyễn Thị Diệu L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Diệu L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0013274 ngày 16/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
  5. Chị Nguyễn Thị Diệu L, anh Nguyễn Hồng T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Đức Thọ;
  • - UBND xã B;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Thọ;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Đình Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diệu L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger