|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A- TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 6 - 2024 “V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A- TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Thảo.
2. Ông Phan Đình Nguyên.
- Thư ký phiên tòa:
Ông Phạm Hồng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2024 “Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Diệp Thị Mỹ D, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Trí C, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Diệp Thị Mỹ D trình bày: Ngày 13/8/2012, chị D và anh Bùi Trí C đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân nhau. Do vậy, chị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C. Về con chung: Chị D và anh C có hai con chung là Bùi Như T, sinh ngày 05/3/2012 và Bùi Thùy D1, sinh ngày 15/5/2017. Chị D đề nghị được nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Bùi Trí C mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần Tòa án triệu tập đến hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Diệp Thị Mỹ D yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Bùi Trí C, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai. Bị đơn anh Bùi Trí C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Bùi Trí C.
[2] Về hôn nhân: Chị Diệp Thị Mỹ D và anh Bùi Trí C có đủ điều kiện kết hôn, đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị D và anh C đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chị D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C. Thôn A và UBND xã C đã có xác nhận về tình trạng mâu thuẫn của chị D và anh C. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng anh C không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị D cho rằng không thể tiếp tục chung sống với nhau và cương quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh C.
[3] Về nuôi con chung: Chị D và anh C có hai con chung là Bùi Như T, sinh ngày 05/3/2012 và Bùi Thùy D1, sinh ngày 15/5/2017. Chị D đề nghị được nuôi dưỡng hai con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, vì lợi ích của con chung, hiện nay hai con chung đang được chị D trực tiếp nuôi dưỡng và các con đều có nguyện vọng được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao hai con chung cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị D không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị D và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn chị Diệp Thị Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn anh Bùi Trí C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Diệp Thị Mỹ D.
- - Về hôn nhân: Chị Diệp Thị Mỹ D được ly hôn với anh Bùi Trí C.
- - Về nuôi con chung: Giao cho chị Diệp Thị Mỹ D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Bùi Như T, sinh ngày 05/3/2012 và Bùi Thùy D1, sinh ngày 15/5/2017, khi các con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Chị D không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về án phí: Chị Diệp Thị Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0013000 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Gia Lai; chị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (06/6/2024), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đồng Ánh Đông |
Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A- TỈNH GIA LAI về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A- TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Diệp Thị Mỹ D ly hôn Bùi Trí C
