TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HC-ST; Ngày: 13/06/2024; |
Về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Phận.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Văn Viết;
- Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Nhật Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án đã thụ lý số 42/2023/TLST-HC ngày 05/12/2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa Nguyễn Thế D, bà Nguyễn Thị Á với Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 835/2024/QĐXXST-HC ngày 04 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:
-Người khởi kiện:
Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1964; (Vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1963; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Thế D: Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1963; (Có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre.
- Người bị kiện:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn N – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Bà Nguyễn Thị T – Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện G, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1946;
Bà Võ Thị H, sinh năm 1956;
Cũng địa chỉ: Ấp E, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre;
- Người làm chứng do người khởi kiện triệu tập:
Bà Võ Thị Hồng P, sinh năm: 1965;
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản đối thoại ông Nguyễn Thế D, bà Nguyễn Thị Á trình bày:
Ngày 12/7/2023 Ủy ban nhân dân (UBND) huyện G ban hành Quyết định số 2492/QĐ-UBND thu hồi 3.075,5m² loại đất ONT+ CLN (trong đó có 300m2 đất ONT) của hộ gia đình ông D, bà Á thuộc thửa 125a, tờ bản đồ số 28, tại xã B, huyện G để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình Ban chỉ huy quân sự huyện G. Cùng ngày 12/7/2023, UBND huyện đã ban hành Quyết định 2489/QĐ-UBND phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ gia đình ông D, bà Á. Theo đó, U bồi thường giá đất trồng cây lâu năm là 374.000đ/m² thành tiền là 1.038.037.000 đồng, giá đất thổ cư là 884.000đ/m² thành tiền là 265.200.000 đồng.
Ông D, bà Á cho rằng Quyết định 2489/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường là không đúng, không phù hợp với quy định về vị trí đất theo Quyết định số 20/2020/QĐ-UBND ngày 06/5/2020 của UBND tỉnh B, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của gia đình ông, bà. Mặt khác, đất của gia đình ông D có điểm tiếp giáp lộ công cộng do nhận chuyển nhượng của hộ ông Phạm Văn Q 54m² đất để làm lối đi. Tuy nhiên, do diện tích đất nhận chuyển nhượng ít, không được tách thửa, việc không thể tách thửa là do thủ tục hành chính, còn theo Quyết định 20/2020/QĐ-UBND ngày 06/5/2020 của UBND tỉnh B thì vấn đề bồi thường phải căn cứ hiện trạng thực tế, trong khi đó gia đình ông đã quản lý sử dụng phần đất 54m² tiếp giáp lộ công cộng nên phải được áp giá tại vị trí 1 mà theo ông khi nhận chuyển nhượng đã mua với giá 4.000.000đ/m².
Sau đó, ông D, bà Á khiếu nại đến UBND huyện G. Ngày 26/10/2023, UBND huyện G ban hành Quyết định số 5163/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông D, bà Á, nội dung:” Không công nhận khiếu nại của ông D, bà Á.......”
Không đồng ý với các quyết định trên, ngày 20/11/2023, ông D, bà Á khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- + Hủy Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12/7/2023 của UBND huyện G về phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thế D.
- + Hủy Quyết định số 5163/QĐ-UBND ngày 26/10/2023 của Chủ tịch UBND huyện G về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Á.
Người bị kiện UBND huyện G và Chủ tịch UBND huyện G có văn bản trình bày ý kiến:
Ngày 27/7/2022 Bộ Q1 ban hành Quyết định số 2796/QĐ-BQP về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Đền bù giải phóng mặt bằng đề đầu tư xây dựng công trình Ban chỉ huy Quân sự huyện G khu 9. Với quy mô diện tích đất khoảng 32.100m² tại ấp B, xã B, huyện G.
Ngày 14/12/2022, Quân khu I ban hành Quyết định 2963/QĐ-BQP về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án đền bù giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng công trình Ban chỉ huy Quân sự huyện G khu 9 (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư).
Ngày 16/8/2022, UBND tỉnh ban hành Công văn số 5134/UBND-TCĐT về việc triển khai thực hiện dự án Đền bù giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng công trình Ban chỉ huy Quân sự huyện G.
Dự án đền bù giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng công trình Ban chỉ huy Quân sự huyện G nằm trên địa bàn ấp B, xã B, huyện G, trong đó hộ ông Nguyễn Thế D bị thu hồi một phần thửa 125, tờ bản đồ 28, diện tích thu hồi là 3.075,5m² (gồm 300m² đất ONT và 2.775,5m² đất CLN), tổng số tiền bồi thường là 2.645.016.741 đồng theo Quyết 2492/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2023 của UBND huyện G về việc thu hồi đất hộ ông Nguyễn Thế D và Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2023 của UBND huyện G về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thế D.
Ngày 19/7/2023, Ban Q đã chi tiền bồi thường và hộ ông D đã nhận đầy đủ số tiền bồi thường là 2.645.016.741 đồng.
Đến ngày 11/9/2023, ông D và bà Á gửi đơn khiếu nại đến UBND huyện T khiếu nại Quyết định 2492/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2023 của UBND huyện G về việc thu hồi đất hộ ông D và Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2023 của UBND huyện G về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho hộ ông D.
Ngày 25/9/2023, UBND huyện G ban hành Quyết định số 4245/QĐ-UBND về việc xác minh nội dung khiếu nại. Căn cứ kết quả xác minh và các quy định của UBND tỉnh về quy định bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre, ngày 26/10/2023 UBND huyện G ban hành Quyết định số 5163/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông D và bà Á, nội dung không công nhận đơn khiếu nại, với lý do: đối với thửa đất nông nghiệp có vị trí không tiếp giáp đường và không cùng chủ sử dụng với thửa đất có vị trí tiếp giáp đường; đối với đất ở tại nông thôn trên bản đồ không có lối đi dẫn vào; phần diện tích 54m² là thuộc thửa 188 thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Văn Q, việc ông Q họp gia đình thống nhất giao quyền sử dụng cho ông D, bà Á là việc tự thỏa thuận giữa các bên, đồng thời hợp đồng chuyển nhượng này cũng chưa được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Việc UBND huyện G ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Nguyễn Thế D là đúng quy định của pháp luật. Do đó, UBND huyện G không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông D, bà Á.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Q, bà Võ Thị H cùng trình bày ý kiến:
Ông Q, bà H năm 2019 có chuyển nhượng phần đất 54m² cho gia đình ông D dùng làm lối đi với giá chuyển nhượng 210.000.000đồng (Hai trăm mười triệu đồng). Sau khi chuyển nhượng hai bên hoàn toàn không có tranh chấp đối với phần đất này. Khi có dự án Nhà nước thu hồi đất gia đình ông Q cũng đồng ý uỷ quyền cho gia đình ông D đến nhận lại số tiền bồi thường tương đương phần đất 54m². Những vấn đề liên quan đến việc bồi thường của gia đình ông D thì gia đình ông Q không biết và không có liên quan. Ngoài ra gia đình ông Q không có ý kiến gì khác đối với vụ án.
Ông Q, bà H đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Toà án.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế D bà Nguyễn Thị Á. Hủy Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12/7/2023 của UBND huyện G về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thế D. Hủy Quyết định số 5163/QĐ-UBND ngày 26/10/2023 của Chủ tịch UBND huyện G về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Á.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:
[1] Về tố tụng:
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Người khởi kiện đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 55, 56 Luật Tố tụng hành chính. Người bị kiện thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 55, 57 Luật Tố tụng hành chính. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự chấp hành đúng Điều 61 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về đối tượng khởi kiện
Tòa án xác định Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12/7/2023 của Ủy ban nhân dân huyện G về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định và Quyết định số 5163/QĐ-UBND ngày 26/10/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G về việc giải quyết khiếu nại của ông D và bà Á là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính đúng theo quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015.
[3] Về thời hiệu khởi kiện
Ngày 12/7/2023 UBND huyện G ban hành Quyết định số 2489/QĐ-UBND phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ ông D, không đồng ý về giá bồi thường vị trí đất nên ngày 11/9/2023 ông D, bà Á có đơn khiếu nại. Ngày 26/10/2023 Chủ tịch UBND huyện G ban hành Quyết định số 5163/QĐ-UBND về việc không công nhận đơn khiếu nại của ông D và bà Á.
Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại, ngày 20/11/2023 ông D, bà Á khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định 2489/QĐ-UBND 12/7/2023 của UBND huyện G và hủy Quyết định số 5163/QĐ-UBND ngày 26/10/2023 của Chủ tịch UBND huyện G.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật TTHC năm 2015 thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
[4] Về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính:
Căn cứ quy định tại quy định tại khoản 2 Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 Điều 45 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì thẩm quyền phê duyệt phương án chi tiền bồi thường hỗ trợ tái định cư cho ông D là của UBND cấp huyện, thẩm quyền giải quyết khiếu nại là của Chủ tịch UBND cấp huyện, do đó, thẩm quyền ban hành hai quyết định trên là đúng thẩm quyền.
[5] Về tính hợp pháp và căn cứ của quyết định hành chính:
Vào ngày 27/7/2022 Bộ Q1 ban hành Quyết định số 2796/QĐ-BQP về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án đền bù giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng công trình Ban Chỉ huy Quân sự huyện G khu 9, nội dung là thực hiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng trên tổng diện tích đất khoảng 32.100m² tại ấp B, xã B, huyện G theo Văn bản số 7321/UBND-TCĐT ngày 08/11/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh B.
Căn cứ quyết định nêu trên, ngày 12/7/2023 Ủy ban nhân dân huyện G ban hành Quyết định 2489/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho hộ ông D với tổng số tiền 2.645.016.741 đồng, gồm:
- + Bồi thường và hỗ trợ một phần thửa 125, tờ bản đồ 28, diện tích 3.075,5m² (trong đó có diện tích thổ cư 300m², diện tích đất trồng cây lâu năm 2775,5m²) số tiền 1.742.876.200 đồng.
- + Nhà ở, vật kiến trúc: 530.309.041₫.
- + Hoa màu: 252.411.500₫.
- + Các chính sách hỗ trợ: 119.420.000đ.
Thửa 125 của ông D tiếp giáp thửa 188 của ông Q rồi đến lộ công cộng. Hồ sơ có đủ chứng cứ thể hiện năm 2019 ông D đã nhận chuyển nhượng 54m² thuộc một phần thửa 188 của ông Q để làm lối đi ra công cộng. Tình tiết này người khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Q, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện thừa nhận nên là tình tiết không phải chứng minh. Do đó, có đủ căn cứ xác định phần đất 54m² (một phần thửa 188) là thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông D có trước khi có dự án công trình trình Ban Chỉ huy Quân sự huyện G khu 9 năm 2022.
Xét thấy, căn cứ Điều 5 luật Đất đai 2013 định nghĩa về người sử dụng đất như sau: “Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:...2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);...” Theo quy định tại Điều 75, luật Đất đai 2013 quy định về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau: “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp...”.
Thấy rằng, gia đình ông D đã quản lý sử dụng 54m² (thuộc một phần thửa 188 của gia đình ông Q) từ năm 2019 thông qua giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Gia đình ông Q đã xây dựng từng rào kiên cố trên phần đất này và sử dụng làm lối đi, lối đi này là lối đi duy nhất của gia đình ông Q để đi ra lộ Trũng Sinh. Từ trước năm 2019, gia đình ông D cũng sử dụng lối đi này để vào đất với hình thức đi nhờ. Do đó, giá trị quyền sử dụng đất của gia đình ông D đối với thửa đất 125 ( đã bị thu hồi giải phóng mặt bằng) sau khi chuyển nhượng hợp pháp phần diện tích đất 54m² để làm lối đi đã tăng lên. Trên thực tế, diện tích 54m² là thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông D nhưng chưa được tách nhập thửa đất vào thửa 125 của gia đình ông D. Do đó, có cơ sở xác định quyền sử dụng đất của gia đình ông D bị thu hồi, giải toả, đền bù có tiếp giáp đường công cộng.
Ngoài ra, căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 4 Quyết định 38/2018 ngày 14/9/2018 của UBND tỉnh B về việc quy định một số quy định cụ thể về áp dụng diện tích tối thiểu các loại đất được phép tách thửa cụ thể: “...Trường hợp thửa đất khi tách thửa để hình thành đường giao thông, hạ tầng kỹ thuật khác vào điểm dân cư hoặc lối đi vào nhà ở riêng lẻ: Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm phê duyệt quy hoạch tổng mặt bằng để đáp ứng các điều kiện đường giao thông, hạ tầng kỹ thuật khác hoặc chấp thuận mở lối đi vào nhà ở riêng lẻ. Diện tích, chiều rộng để làm đường giao thông, hạ tầng kỹ thuật khác và lối đi theo phê duyệt quy hoạch tổng mặt bằng hoặc chấp thuận mở lối đi của Ủy ban nhân dân cấp huyện...”. Như vậy, việc ông D nhận chuyển nhượng lối đi có diện tích dưới diện tích tách thửa tối thiểu để nhận vào thửa 125 không bị pháp luật cấm và được phép theo phê duyệt của người có thẩm quyền.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận phần đất thuộc một phần thửa đất 128 diện tích 54m² là thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông D nên diện tích phần đất thửa 125 của gia đình ông D bị áp giá giải toả đền bù là phần đất có tiếp giáp đường đi công cộng.
Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12/7/2023 của UBND huyện G về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thế D trong đó có giá trị bồi thường và hỗ trợ về đất là: 1.742.876.200 đồng. Căn cứ Quyết định 2652/UBND-TCĐT ngày 9/5/2023 của UBND tỉnh B xác định đất của gia đình ông D có vị trí 1 (không tiếp giáp đường và không cùng chủ với thửa đất có tiếp giáp đường trong phạm vi vị trí 1) để tính giá trị đất cụ thể là 374.000đồng/m² đất nông nghiệp (CLN) và 884.000đồng/m² đối với đất thổ cư (ONT).
Như phân tích trên, phần đất gia đình ông D bị thu hồi thửa 125 là có tiếp giáp đường do phần đất diện tích 54m² cũng thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông D, là cùng chủ sử dụng đất. Mặc khác, giá trị thực tế của thửa đất có lối đi thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của cùng một chủ có giá trị cao hơn so với phần đất không có lối đi. Do đó, việc UBND huyện G áp giá theo Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12/7/2023 của UBND huyện G về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thế D là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D nên HĐXX xét thấy có căn cứ huỷ Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12/7/2023 của UBND huyện G về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thế D.
Do nhận định huỷ Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12/7/2023 của UBND huyện G về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thế D nên HĐXX cũng chấp nhận yêu cầu khởi kiện huỷ Quyết định số 5163/QĐ-UBND ngày 26/10/2023 của Chủ tịch UBND huyện G về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Á.
[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 55, 56, 57, Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ 5, khoản 2 Điều 66, Điều 69, Điều 75, Luật Đất đai 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
Cụ thể:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế D, bà Nguyễn Thị Á.
- + Hủy Quyết định 2489/QĐ-UBND ngày 12/7/2023 của UBND huyện G, tỉnh Bến Tre về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thế D.
- + Hủy Quyết định số 5163/QĐ-UBND ngày 26/10/2023 của Chủ tịch UBND huyện G, tỉnh Bến Tre về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Á.
2/ Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Nguyễn Thế D, bà Nguyễn Thị Á không phải chịu theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000đồng.
3/ Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo; các đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Phận |
10
Bản án số 10/2024/HC-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 10/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
