|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2024/DS - ST Ngày: 10 - 5- 2024 V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật
Ông Đỗ Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 103/2023/TLST- DS ngày 30 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số nhà B, xóm C, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số nhà I, đường Ô, Cụm B, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Người được bà Nguyễn Thị H uỷ quyền là: Anh Nguyễn Đình H1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số nhà I, đường Ô, Cụm B, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1951; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Người được ông Nguyễn Đình N uỷ quyền là: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số nhà B, xóm C, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, có mặt.
+ Ông Nguyễn Đình N1, sinh năm 1956; Địa chỉ Cụm B, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội, có mặt.
Người được ông N2 ủy quyền là: Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1946; Địa chỉ: Cụm A, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội, có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số B đường K, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người được bà Nguyễn Thị V uỷ quyền là: Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Cụm B, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Cụm B, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, có mặt.
+ Anh Nguyễn Đình H1, sinh năm 1996, anh Nguyễn Đình H2, sinh năm 2000; Cùng địa chỉ: Số nhà I, đường Ô, cụm B, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, có mặt.
Người được anh H2 ủy quyền: Anh Nguyễn Đình H1, sinh năm 1996, địa chỉ: Số nhà I, đường Ô, cụm B, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, có mặt.
+ UBND huyện Đ, địa chỉ: Phố T, thị trấn P, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà là con của cụ Nguyễn Đình H3 (chết năm 1997) và cụ Nguyễn Thị C (chết năm 2007). Cụ H3 và cụ C sinh được 06 con chung là: Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1951, ông Nguyễn Đình N1, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1960, bà là Nguyễn Thị L, sinh năm 1962, bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1969 và ông Nguyễn Đình V2, sinh năm 1973 (chết năm 2019). Ông V2 có vợ là bà Nguyễn Thị H4 Ông V2 và bà H5 có 02 con chung là anh Nguyễn Đình H1, sinh năm 1996 và anh Nguyễn Đình H2, sinh năm 2000.
Về nguồn gốc số tiền 513.423.000 đồng, bà khởi kiện bà H5 về chia thừa kế tài sản là số tiền được nhà nước bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, thu hồi đất nông nghiệp cấp năm 1992 ở xứ đồng D, xã H, huyện Đ, diện tích 521m² đất của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C (bố mẹ bà). Năm 2022 UBND huyện Đ thu hồi diện tích đất trên và bồi thường số tiền là 513.423.000 đồng. Năm 2022, sau khi có Quyết định thu hồi đất, UBND xã H, UBND huyện Đ báo ông Nguyễn Đình N1 đại diện hộ cụ C đến nhận tiền thì bà Nguyễn Thị H (em dâu) xuất trình bản di chúc cụ C lập cho ông V2 (chồng bà H5) diện tích 288m² đất của cụ C và yêu cầu được chia ½ số tiền bồi thường nhưng anh chị em bà không đồng ý. Vì bất đồng quan điểm nên UBND huyện Đ không chi trả tiền mà đã chuyển tiền vào kho bạc Nhà nước huyện Đ.
Nay bà yêu cầu chia thừa kế số tiền là 513.423.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Đình V2 (chết năm 2019), bà và ông V2 có hai con chung là anh Nguyễn Đình H1 và anh Nguyễn Đình H2. Ông V2 là con của cụ Nguyễn Đình H3 (chết năm 1997) và cụ Nguyễn Thị C (chết năm 2007). Cụ H3 và cụ C có 06 con chung như bà L1 khai.
Về nguồn gốc số tiền bà L1 khởi kiện bà về chia thừa kế là tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C được cấp năm 1992, diện tích 521m² ở xứ đồng D, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Năm 1997 cụ H3 chết không lập di chúc cho ai đất. Năm 2007 cụ Nguyễn Thị C lập di chúc cho ông Nguyễn Đình V2 (chồng bà) diện tích 288m² đất, cụ C và ông V2 trực tiếp đến UBND xã H lập di chúc, cụ C điểm chỉ vào bản di chúc được UBND xã H xác nhận. Năm 2022 UBND huyện Đ thu hồi diện tích đất trên và bồi thường số tiền là 513.423.000 đồng. Ông N2, bà L1 yêu cầu chia số tiền trên cho các con cụ C mỗi người một phần nhưng bà không đồng ý, do mâu thuẫn trong gia đình nên số tiền trên đã gửi vào kho bạc Nhà nước huyện Đ. Nay bà L1 khởi kiện chia thừa kế số tiền trên, bà đề nghị Tòa án giải quyết chia theo di chúc mà cụ C lập, bà đề nghị lấy số tiền tương ứng với số đất của cụ C cho ông V2, còn phần tài sản của cụ C, ông V2 được thừa kế của cụ H3, bà và các con bà không lấy mà để lại cho các thừa kế khác. Do bận công việc nên bà ủy quyền cho anh Nguyễn Đình H1 thay mặt bà giải quyết vụ án.
Anh Nguyễn Đình H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người được bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đình H2 ủy quyền trình bày: Anh là con đẻ của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đình V2 (ông V2 chết năm 2019), ông V2 và bà H5 có hai con chung, anh là Nguyễn Đình H1 và em anh là Nguyễn Đình H2, anh có ý kiến như sau:
Số tiền bà L1 khởi kiện bà H5, yêu cầu chia thừa kế là tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C (ông bà nội anh) được cấp năm 1992, diện tích 521m², ở xứ đồng D, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Theo Quyết định của UBND huyện năm 2022 thì nhà nước thu hồi diện tích 521m² đất và bồi thường số tiền là 513.423.000 đồng. Năm 2022 UBND huyện Đ báo đại diện hộ cụ C đến UBND xã H để nhận tiền bồi thường. Do mâu thuẫn trong gia đình không thống nhất được cách chia nên UBND huyện Đ đã gửi số tiền trên vào kho bạc nhà nước huyện Đ. Nay bà L1 khởi kiện bà H5 yêu cầu chia thừa kế số tiền trên, anh đề nghị Tòa án giải quyết chia số tiền trên theo di chúc mà cụ C đã lập, phần tài sản cụ C và ông V2 được thừa kế của cụ H3 anh, bà H5 và anh H2 không lấy. Anh chỉ đề nghị được hưởng phần thừa kế thế vị của ông V2 đối với di sản của cụ C theo di chúc mà cụ C lập cho ông V2 với số tiền là 256.711.500 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình N, ông Nguyễn Đình N1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị V1 trình bày: Các ông và các bà là con của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C, là người có quyền nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Về huyết thống gia đình: Đúng là cụ Nguyễn Đình H3 chết năm 1997, cụ Nguyễn Thị C chết năm 2007. Cụ H3 và cụ C sinh được 6 con chung như bà L1 đã trình bày.
Về số tiền bà L1 khởi kiện bà H5 chia thừa kế là tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tiêu chuẩn đất của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C (bố mẹ của các ông, bà) được cấp năm 1992, diện tích 521m², ở xứ đồng D, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Theo Quyết định của UBND huyện thì nhà nước thu hồi diện tích 521m² đất và bồi thường cho hộ cụ Nguyễn Thị Cơ s tiền là 513.423.000 đồng. Năm 2022 UBND xã H và UBND huyện Đ thông báo đại diện hộ cụ C đến nhận tiền, các ông, bà đề nghị chia cho tất cả các con của cụ H3 và cụ C mỗi người một phần tiền nhưng bà H5 vợ ông V2 không đồng ý mà xuất trình bản di chúc cụ C lập cho ông V2 đất, do anh em trong gia đình không thống nhất được cách chia nên số tiền trên đã gửi vào kho bạc nhà nước huyện Đ. Nay bà L1 yêu cầu chia thừa kế số tiền trên, các ông bà hoàn toàn nhất trí, còn bà H5 yêu cầu chia theo di chúc các ông, bà không đồng ý.
Tòa án xác minh tại UBND huyện Đ thì Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Đ cho biết: Theo quyết định số 5104/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của UBND huyện Đ thì hộ cụ Nguyễn Thị C được bồi thường số tiền 513.423.000 đồng. Do các hàng thừa kế của hộ cụ C không thống nhất được người nhận tiền trên nên trung tâm phát triển quỹ đất không bàn giao số tiền trên cho hộ cụ Cơ m đã trả lại số tiền trên cho ngân sách nhà nước vào tài khoản Kho bạc nhà nước Đan Phượng, số tài khoản 955237903573.
Tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L yêu cầu chia thừa kế số tiền của cụ H3 và cụ C được bồi thường là 513.423.000 đồng làm 6 phần cho anh chị em bà. Nếu di chúc cụ C lập cho ông V2 mà hợp pháp thì bà chỉ yêu cầu chia phần tiền của cụ H3.
Anh Nguyễn Đình H1 đề nghị Tòa án chia thừa kế số tiền 256.711.500 đồng của cụ H3 theo quy định pháp luật và chia thừa kế số tiền 256.711.500 đồng của cụ C theo di chúc. Còn phần tài sản của cụ C và ông V2 được thừa kế của cụ H3 thì bà H5 và các anh không lấy mà để lại cho các thừa kế khác. Trong số tiền được bồi thường có 705 cây chuối bà H5 thuê trồng được bồi thường số tiền là 5.448.000 đồng, số tiền này anh và bà H5 đề nghị nhập chung vào tài sản để chia thừa kế.
Bà Nguyễn Thị V1, người được ông N2 ủy quyền là ông Nguyễn Xuân K đề nghị Tòa án chia thừa kế phần tài sản của cụ H3 theo quy định pháp luật, phần tài sản của cụ C chia theo di chúc mà cụ C lập cho ông V2.
Ông Nguyễn Đình N1 không đồng ý với ý kiến của ông K1 (là người được ông N2 ủy quyền), đề nghị Hội đồng xét xử chia số tiền 513.423.000 đồng của cụ H3 và cụ C thành 6 phần cho anh chị em ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L, số tiền được bồi thường 256.711.500 đồng mà cụ C giao cho bà H5, anh H6, anh H2 được hưởng; số tiền được bồi thường 256.711.000 đồng mà cụ H3 được hưởng chia cho ông N, ông N2, bà V, bà L1, bà V1, mỗi người là 51.342.200 đồng.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Đình N, ông Nguyễn Đình N1, bà Nguyễn Thị V là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự. Bà Nguyễn Thị V1, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đình H1 và anh Nguyễn Đình H2 phải chịu án phí dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị L khởi kiện bà Nguyễn Thị H về chia thừa kế số tiền là 513.423.000 đồng, là tiền bồi thường, thu hồi đất nông nghiệp, diện tích 521m² ở xứ Đ, xã H là đất của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C nên xác định vụ án dân sự về “Tranh chấp thừa kế tài sản”, có địa chỉ tại Cụm B, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, đây là quan hệ tranh chấp về dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Nguyễn Đình H3 chết ngày 26/6/1997, cụ Nguyễn Thị C chết ngày 08/10/2007, ông Nguyễn Đình V2 chết ngày 17/4/2019, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế vẫn còn nên được giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của các đương sự:
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về chia thừa kế số tiền 513.423.000 đồng là số tiền Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C, chia làm 6 phần cho anh chị em bà.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị H không đồng ý chia thừa kế số tiền 256.711.500 đồng của cụ C theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Bà L1, ông K1, bà V1 chỉ đề nghị chia số tiền 256.711.500 đồng của cụ H3 theo quy định pháp luật, đồng ý số tiền 256.711.500 đồng của cụ C chia theo di chúc mà cụ C lập cho ông V2.
Ông Nguyễn Đình N1 yêu cầu chia thừa kế số tiền 513.423.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Qua điều tra lấy lời khai của các đương sự và xác minh tại UBND xã H thì: Xác định thửa đất có diện tích 521m² ở xứ đồng Dộc Nhồi, xã H bị nhà nước thu hồi là tiêu chuẩn đất nông nghiệp của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C, mỗi cụ được Nhà nước giao 260,5 m². Ngày 07/7/2022 UBND huyện Đ ban hành Quyết định thu hồi số 5103/QĐ – UBND và bồi thường, hỗ trợ GPMB khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì hộ cụ Nguyễn Thị C được bồi thường tổng số tiền là 513.423.000 đồng. Sau khi được phê duyệt trung tâm phát triển quỹ đất đã thông báo chi trả tiền nhưng các thành viên thuộc hàng thừa kế của hộ cụ C không thống nhất việc phân chia nên số tiền trên đã được chuyển vào Kho bạc nhà nước huyện Đ.
Năm 1997 cụ Nguyễn Thị H7 chết không lập di chúc phân chia đất cho con nào nên phần di sản của cụ H7 được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/6/2007 cụ Nguyễn Thị C lập di chúc cho ông Nguyễn Đình V2 (chồng bà Nguyễn Thị H) diện tích 288m² ở xứ đồng Khu D, cụ C trực tiếp đến UBND xã H tự nguyện lập di chúc, điểm chỉ trước sự chứng kiến của UBND xã, có xác nhận của chính quyền địa phương nên xét thấy di chúc cụ C lập là hợp pháp, bà H5 yêu cầu chia thừa kế theo di chúc phần tài sản của ông V2 được thừa kế của cụ C được Hội đồng xét xử chấp nhận phù hợp với yêu cầu của bà L1, bà V1 và ông K1 không yêu cầu chia số tiền của cụ C. Do di chúc của cụ C hợp pháp nên yêu cầu của ông N2 chia thừa kế số tiền của cụ C không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy phần di sản của cụ C và cụ H7 là 513.423.000 đồng, di sản của mỗi cụ là 513.423.000 đồng : 2 = 256.711.500 đồng.
Mở thừa kế năm 1997, cụ H7 chết ngày 26/6/1997. Di sản của cụ H7 là số tiền 256.711.500 đồng. Cụ H7 không lập di chúc nên số tiền trên sẽ được chia cho các thừa kế của cụ H7 là cụ Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Đình N, ông Nguyễn Đình N1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V1 và ông Nguyễn Đình V2. Như vậy số tiền 256.711.500 đồng : 7 = 36.673.071 đồng, mỗi kỷ phần được thừa kế của cụ H7 là 36.673.071 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bà H5, anh H6 và anh H2 là người được thừa kế thế vị phần tài sản của ông V2, không nhận phần tài sản mà cụ C và ông V2 được thừa kế của cụ H7 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Như vậy số tiền 256.711.500 đồng được chia làm 5 phần cho ông N, ông N2, bà V, bà L1 và bà V1, mỗi kỷ phần được chia là 256.711.500 đồng : 5 = 51.342.300 đồng.
Mở thừa kế năm 2007, cụ C chết. Di sản của cụ C là số tiền 256.711.000 đồng, cụ C lập di chúc cho ông V2 nên số tiền 256.711.500 đồng ông Nguyễn Đình V2 được hưởng.
Mở thừa kế năm 2019, ông V2 chết ngày 17/4/2019. Tài sản ông V2 được thừa kế của cụ C là 256.711.500 đồng sẽ được giao cho bà H5, anh H6 và anh H2.
Theo biên bản xác minh tại trung tâm phát triển quỹ đất, số tiền 513.423.000 đồng đã được gửi vào tài khoản Kho bạc Nhà nước huyện Đ, số tài khoản là 955237903573. Những người được hưởng thừa kế liên hệ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục lấy lại số tiền theo Quyết định của bản án Tòa án.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Đình N, ông Nguyễn Đình N1, bà Nguyễn Thị V là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị V1, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đình H1 và anh Nguyễn Đình H2 phải chịu án phí dân sự tương ứng với số tiền được hưởng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 623, 624, 625, 627, 628, 630, 631, 635, 649, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xác định diện tích 521m² đất nông nghiệp, thửa đất số 07 (VLAP thửa đất số 442), tờ bản đồ số 1 (VLAP tờ bản đồ số 09), ở xứ đồng D, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội là của cụ Nguyễn Đình H3 và cụ Nguyễn Thị C đã bị thu hồi và đã được bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng với số tiền là 513.423.000 đồng.
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về chia di sản thừa kế số tiền 256.711.500 đồng của cụ Nguyễn Đình H3.
Mở thừa kế năm 1997, cụ H3 chết ngày 26/6/1997. Di sản của cụ H3 là số tiền là 256.711.500 đồng, sẽ được chia cho các thừa kế là cụ Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Đình N, ông Nguyễn Đình N1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V1 và ông Nguyễn Đình V2.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đình H1 và anh Nguyễn Đình H2 không nhận phần tài sản của cụ C và ông V2 được thừa kế của cụ H3.
Như vậy phần tài sản của ông Nguyễn Đình N, ông Nguyễn Đình N1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V1 được thừa kế tài sản của cụ H3 là 256.711.500 đồng : 5 = 51.342.300 đồng.
Bà Nguyễn Thị L được thừa kế phần tài sản của cụ H3 là 51.342.300 đồng (Năm mốt triệu ba trăm bốn hai nghìn ba trăm đồng).
Ông Nguyễn Đình N được thừa kế phần tài sản của cụ H3 là 51.342.300 đồng (Năm mốt triệu ba trăm bốn hai nghìn ba trăm đồng).
Ông Nguyễn Đình N1 được thừa kế phần tài sản của cụ H3 là 51.342.300 đồng (Năm mốt triệu ba trăm bốn hai nghìn ba trăm đồng).
Bà Nguyễn Thị V được thừa kế phần tài sản của cụ H3 là 51.342.300 đồng (Năm mốt triệu ba trăm bốn hai nghìn ba trăm đồng).
Bà Nguyễn Thị V1 được thừa kế phần tài sản của cụ H3 là 51.342.300 đồng (Năm mốt triệu ba trăm bốn hai nghìn ba trăm đồng).
Mở thừa kế tháng 10 năm 2007, cụ C chết. Di sản của C là 256.711.500 đồng được giao cho ông Nguyễn Đình V2 hưởng theo di chúc.
Mở thừa kế tháng 4 năm 2019, ông V2 chết, phần tài sản ông V2 được thừa kế của cụ C là 256.711.500 đồng, giao cho các thừa kế của ông V2 là bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đình H1 và anh Nguyễn Đình H2.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự được hưởng tài sản có đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền chi trả số tiền đã được gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ, thành phố Hà Nội, số tài khoản là 955237903573.
4. Án phí: Bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Đình N, ông Nguyễn Đình N1, bà Nguyễn Thị V là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí chia tài sản.
Bà Nguyễn Thị V1 phải chịu 2.567.000 đồng án phí chia tài sản.
Bà Nguyễn Thị H đại diện cho anh Nguyễn Đình H1 và anh Nguyễn Đình H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.835.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, bị đơn bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tuyết |
Bản án số 10/2024/DS ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 10/2024/DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số nhà B, xóm C, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, có mặt. - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số nhà I, đường Ô, Cụm B, xã H, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
