|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số:10/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 “V/v Tranh chấp HĐ cầm cố tài sản” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Phương Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khắc Hoà và bà Trần Thị Minh Phúc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thông -Thẩm tra viên, Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ An - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 24/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11 /2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 08 /2024/QÐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: CÔNG TY CỔ PHẦN S2
Trụ sở chính: A N, Phường B, Thành phố V, Tỉnh Nghệ An. Đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT - Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh N ; Sinh năm : 1991 (Theo Quyết định số 442/2024/UQ-SVN ngày 05/05/2024 của Giám đốc Công Ty về việc ủy quyền thực hiện hoạt động tố tụng). Có mặt.
Địa chỉ liên hệ : Số H Quốc lộ I, Phường E, TP.Đ, Tỉnh Quảng Trị.
Bị đơn Bà: Phan Thị L, sinh năm: 1958
Địa chỉ: Khu Phố A, Phường C,Thị Xã Q, Tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
Ngày 09/07/2020, bà Phan Thị L có đến Công ty TNHH S1, nay là Công ty cổ phần S2 - chi nhánh Đ 1 của Công ty tại địa chỉ: Số H Q, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng số: DHM200701013NA17X ký giữa các bên ngày 09/07/2020, thì bà Phan Thị L có ký hợp đồng cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh biển kiểm soát:74E1-057.62, Loại xe: Honda AirBlade, màu: Trắng Bạc Đen, Số khung: RLHJF6304FZ159206, số máy: JF63E1513308; số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001635, do Công an tỉnh Q cấp ngày 24/04/2017.
Để nhận số tiền là 16.800.000 đồng; thời hạn cầm cố là 12 tháng (từ 09/07/2020 - 09/07/2021 ) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho bà Phan Thị L. Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho bà Phan Thị L mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 09/07/2020 đến 09/08/2020, địa điểm trả xe là tại chi nhánh Đ 01. Bà Phan Thị L có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”.
Quá trình trả nợ, bà Phan Thị L chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng, bà Phan Thị L không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty và có biểu hiện trốn tránh, chiếm đoạt tài sản của Công ty.
Nay, Công Ty Cổ Phần S2 khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị giải quyết:
Buộc bà Phan Thị L thanh toán số tiền 15.573.000 đồng, tính đến ngày 17/06/2024 bao gồm : Gốc: 8.537.197 VNĐ, Lãi: 386.673 đồng (1.1%/ tháng), P : 1.406,082 đồng (4%/ tháng), Lãi quá hạn: 15.242.414 đồng.
Trường hợp thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ thì Công Ty Cổ Phần S2 có quyền xử lý tài sản đảm bảo là chiếc xe môtô hai bánh biển số:74E1-057.62, Loại xe: Honda AirBlade, Số khung: RLHJF6304FZ159206, Số máy: JF63E1513308, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Công ty TNHH S1, nay là Công Ty Cổ Phần S2 số DHM200701013NA17X ngày 09/07/2020.
Buộc bà Phan Thị L có nghĩa vụ trả lại xe đã mượn của công ty để đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ.
2
Ngoài ra bà Phan Thị L còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký. Kể từ ngày Tòa án xét xử cho đến khi thanh toán xong nợ .
Tại bản trình bày ý kiến ngày 17/9/2024 và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
Quá trình thực hiện hợp đồng bà Phan Thị L đã thanh toán số tiền 13.809.000 đồng (6 tháng) trong đó: Gốc: 8.262.803 đồng, Lãi: 923.421 đồng, Phí: 3.357.890 đồng, Lãi quá hạn: 1.264.886 đồng.
Quá trình trả nợ, bà Phan Thị L chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng, bà Phan Thị L không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty.
Nay, Công ty Cổ Phần S2 rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
- Rút yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền phí thẩm định tài sản 1.406.082 đồng.
- Rút một phần tiền lãi quá hạn là 9.592.062 đồng,
- Rút yêu cầu khởi kiện đối với việc xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74E1-057.62, Loại xe: Honda AirBlade, Số khung: RLHJF6304FZ159206, Số máy: JF63E1513308, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Chi Nhánh Đ 01 - Công Ty Cổ Phần S2 số DHM200701013NA17X ngày 09/07/2020.
Đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thị L thanh toán cho Công Ty Cổ Phần S2 số tiền 14.631.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng)) tính từ ngày 10/02/2021 đến ngày 17/09/2024 bao gồm: Tiền gốc: 8,537,197 đồng, Tiền lãi: 386,673 đồng (1.1%/ tháng) và Tiền lãi quá hạn: 5.706.698 đồng. (1.65%/tháng).
Ngoài ra bà Phan Thị L còn tiếp tục chịu lãi suất phát sinh cho đến khi trả hết khoản nợ gốc với mức lãi suất quy định trong hợp đồng cầm cố đã ký kết.
Bị đơn bà Phan Thị L trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Toà án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý, xét xử vụ án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70,72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S1.
Buộc bà Phan Thị L phải trả cho Công Ty cổ Phần S số tiền 14.631.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng) bao gồm: Tiền gốc: 8.537.197 đồng, tiền lãi trong hạn: 386,673 đồng và tiền lãi quá hạn: 5.706.698 đồng.
Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện:
- Đối với khoản tiền phí thẩm định tài sản 1.406.082 đồng và một phần tiền lãi quá hạn là 9.592.062 đồng.
- Việc xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74E1-057.62 của bà Phan Thị L.
2. Về án phí: Buộc bị đơn bà Phan Thị L phải chịu 731.550 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty cổ phần S2 có Ngay số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 639.325 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Công ty cổ phần S2 khởi kiện yêu cầu Phan Thị L; cư trú tại khu phố A, phường C, thị xã Q thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng cầm cố tài sản. Các bên tranh chấp liên quan đến hợp đồng cầm cố tài sản và mượn tài sản đã ký kết giữa Công ty TNHH S1, nay là Công ty cổ phần S2 và bà Phan Thị L, nên xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị (Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự).
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự theo quy định của pháp luật, nhưng phía bị đơn vắng mặt không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án. Phía bị đơn bà Phan Thị L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Tòa án hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn vắng mặt không có lý do; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
Ngày 09/7/2020, giữa Công ty TNHH S1, nay là công ty cổ phần S2 và bà Phan Thị L đã ký kết hợp đồng cầm cố tài sản số DHM200701013NA17X ngày 09/07/2020, xét thấy nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên cần xem xét bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự. Tài sản bà L cầm cố là 01 xe môtô, biển kiểm soát:74E1-057.62, Loại xe: Honda AirBlade, màu: Trắng Bạc Đen, Số khung: RLHJF6304FZ159206, số máy: JF63E1513308; số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001635 Do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 24/04/2017, để nhận số tiền là 16.800.000 đồng. Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho bà Phan Thị L. Theo hợp đồng cầm cố thể hiện thời hạn cầm cố là 12 tháng (từ 09/07/2020 - 09/07/2021), số tiền trả mỗi tháng là 1.906.172 đồng, kể từ tháng 8/2020, với mức lãi suất 1,1%/ tháng và lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cầm cố trong hạn, tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và các loại phí khác gồm phí quản lý hồ sơ cố định, phí hợp lý khác theo thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố. Do đó số tiền bà Phan Thị L phải trả cho công ty cổ phần S2 như sau:
- Đối với số tiền gốc: Số tiền bà Phan Thị L nhận khi cầm cố là 16.800.000 đồng, quá trình thực hiện hợp đồng, bà L đã trả cho công ty cổ phần S2 y được 8.262.803 đồng tiền gốc. Tính đến ngày xét xử 17/9/2024, bà L còn nợ Công ty cổ phần S2 số tiền gốc 8,537,197đồng. Do bà L vi phạm các điều khoản mà các bên đã ký thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố số DHM200701013NA17X ngày 09/07/2020 là không trả nợ đúng hạn. Vì vậy cần buộc bà Phan Thị L phải trả cho Công ty cổ phần S2 số tiền gốc 8.537.197đồng là phù hợp với quy định của pháp luật (Căn cứ Điều 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315 của Bộ luật dân sự).
5
- Đối với số tiền lãi và các loại phí: Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phan Thị L đã trả cho Công ty TNHH S1 nay là công ty cổ phần S2 được số tiền 5.546.197 đồng. Trong đó tiền lãi trong hạn 923.421 đồng, L1 quá hạn 1.264.886 đồng, tiền các loại phí 3.357.890 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù đây không phải là hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự, nhưng các thỏa thuận về lãi suất đã ghi trong hợp đồng cầm cố tài sản số DHM200701013NA17X ngày 09/07/2020 không trái với quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận việc tính lãi suất từ khi bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng theo hợp đồng cầm cố tài sản nên phải chịu tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn và các loại phí khác là 17.035.169 đồng. Trong đó: Tiền lãi trong hạn: 386.673 đồng (1.1%/ tháng), Phí: 1.406,082 đồng, lãi quá hạn: 15.242.414 đồng. Tuy nhiên, Công ty Cổ Phần S2 rút yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền phí thẩm định tài sản 1.406.082 đồng và rút một phần tiền lãi quá hạn là 9.592.062 đồng. Do đó, bà Phan Thị L còn phải trả cho công ty số tiền lãi trong hạn 386.673 đồng, tiền lãi quá hạn: 5.706.698 đồng.
- Đối với hợp đồng mượn xe mô tô: Công ty cổ Phần S2 rút yêu cầu khởi kiện việc xử lý đối với tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74E1-057.62, Loại xe: Honda AirBlade, Số khung: RLHJF6304FZ159206, Số máy: JF63E1513308, theo Hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe ngày 09/7/2020 đã ký với Công ty TNHH S1 nay là Công Ty Cổ Phần S2. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết xử lý tài sản đảm bảo nói trên.
Như vậy, cần xử buộc bà Phan Thị L thanh toán cho Công Ty Cổ Phần S2 số tiền 14.631.000 tính từ ngày 10/02/2021 đến ngày xét xử 17/9/2024 bao gồm: Tiền gốc: 8.537.197 đồng, tiền lãi tiền hạn: 386,673 đồng (1.1%/ tháng) và tiền lãi quá hạn: 5.706.698 đồng (1.65%/tháng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán xong khoản nợ.
Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện: Đối với khoản tiền phí thẩm định tài sản 1.406.082 đồng và rút một phần tiền lãi quá hạn là 9.592.062 đồng và việc xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74E1-057.62 của bà Phan Thị L.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S2.
Buộc bà Phan Thị L phải trả cho Công Ty cổ Phần S2 số tiền 14.631.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng) bao gồm: Tiền gốc: 8.537.197 đồng, tiền lãi trong hạn: 386,673 đồng và tiền lãi quá hạn: 5.706.698 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà bên phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nói trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi trên số tiền phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong.
Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện:
- Đối với khoản tiền phí thẩm định tài sản 1.406.082 đồng và một phần tiền lãi quá hạn là 9.592.062 đồng.
- Việc xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe mô tô hai bánh biển số: 74E1-057.62 của bà Phan Thị L.
2. Về án phí: Buộc bị đơn bà Phan Thị L phải chịu 731.550 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty cổ phần S2 số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 639.325 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000080ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Tiến |
8
Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hđ cầm cố tài sản
- Số bản án: 10/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ cầm cố tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
