Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/DS-ST

Ngày: 16/4/2024.

Về việc “Tranh chấp hợp đồng

dân sự mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Luân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lê Văn Hiển
  • 2. Ông Lê Đức Lam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán hàng hóa”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-DS ngày 15/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QĐST-DS ngày 01/4/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH V.

    Có trụ sở tại: Số A đường N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc B – Chức vụ: Giám đốc.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Ngọc H, sinh năm 1987; địa chỉ: Số A đường N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Là người đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 20/12/2022, số công chứng: 1805, quyển số: 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

  2. Bị đơn: Bà Võ Thị C, địa chỉ: Số B, Quốc lộ B, Ngã ba C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

    (Ông H có mặt, bà C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tháng 11/2019 bà Võ Thị C đặt vấn đề lấy vật liệu xây dựng của Công ty TNHH V để phân phối lại gồm các mặt hàng: xi măng, sắt, thép. Từ tháng 11/2019 đến tháng 02/2020 bà C nhiều lần lấy hàng từ Công ty TNHH V nhưng không thanh toán đúng hạn. Nhận thấy bà C có nhiều vi phạm trong việc thanh toán mua hàng nên từ tháng 03/2020 Công ty TNHH V đã ngừng cung cấp hàng hóa cho bà Võ Thị C. Ngày 09/3/2020, tại cửa hàng V1, địa chỉ 206 Quốc lộ B, ngã ba C, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giữa Công ty TNHH V bà Võ Thị C tiến hành lập biên bản đối chiếu công nợ. Nội dung xác nhận bà Võ Thị C nợ Công ty TNHH V số tiền 570.506.000đ và bà C hẹn trong 01 một tháng, đến ngày 09/4/2020 sẽ tất toán toàn bộ số tiền nợ cho Công ty. Từ tháng 4/2020 cho đến nay Công ty đã nhiều lần liên hệ nhưng bà C vẫn chưa thanh toán khoản nợ nói trên. Nay Công ty TNHH V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Võ Thị C phải trả số tiền nợ gốc là 570.506.000đ và tiền lãi tính từ tháng 4/2020 đến tháng 12/2022 là 105.560.000đ.

Ngày 07/3/2023 bà C có mặt tại Tòa án và đã được thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sau đó vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Võ Thị C trả cho Công ty TNHH V số tiền nợ gốc là 570.506.000đ và tiền lãi chậm trả tính từ tháng 4/2020 đến tháng 12/2022 là 105.560.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 570.506.000đ và tiền lãi chậm trả là 105.560.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Công ty TNHH V khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán hàng hóa, yêu cầu bà Võ Thị C trả số tiền nợ gốc là 570.506.000đ và tiền lãi tạm tính từ tháng 4/2020 đến tháng 12/2022 là 105.560.000đ. Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung cần giải quyết của vụ án:

[2.1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ thể hiện từ tháng 11/2019 đến tháng 02/2020 bà C đã nhiều lần lấy hàng từ Công ty TNHH V nhưng không thanh toán đúng hạn. Giữa các bên chỉ có quan hệ mua bán hàng hóa và phân phối lại cho khách hàng để hưởng chênh lệch mà không có hợp đồng đại lý, bà Võ Thị C cũng không có đăng ký kinh doanh mặt hàng vật liệu xây dựng nên cần xác định đây là quan hệ tranh chấp dân sự về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.2.1] Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn thì giữa Công ty V và bà Võ Thị C có thỏa thuận về về việc mua báng hàng hóa là mặt hàng vật liệu xây dựng theo phương thức bà C nhận hàng hóa để phân phối trước, thanh toán sau. Khi nhận hàng ở kỳ sau thì sẽ thanh toán giá trị các mặt hàng ở kỳ trước. Đến tháng 02/2020 bà C nhận hàng để phân phối nhưng chỉ thanh toán được 10.000.000đ. Tại biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ ngày 09/3/2020 thể hiện bà C còn nợ Công ty TNHH V tiền nợ gốc là 570.506.000đ. Tuy biên bản đối chiếu công nợ không quy định về thời hạn trả nợ nhưng căn cứ vào thỏa thuận ban đầu thì đến tháng 3/2020 bà C phải có trách nhiệm thanh toán giá trị hàng hóa đã nhận vào tháng 02/2020 nên có cơ sở để xác định thời điểm bà C vi phạm nghĩa vụ thanh toán là tháng 3/2020 và nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu bà C trả khoản nợ mà các bên đã đối chiếu, xác nhận. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thông báo về kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ của vụ án nhưng đến nay bị đơn cũng không có lời trình bày hoặc văn bản nào phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó, có căn cứ chứng minh nội dung tranh chấp là có thật và có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả nợ gốc theo quy định của pháp luật.

[2.2.2] Về lãi chậm trả: Tại phiên tòa, người đại diên theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bà C thanh toán nợ gốc và nợ lãi với mức 0,75%/ tháng và khoản lãi tương ứng được tính như sau: 570.506.000đ x 0.75%/ tháng x 33 tháng (tính từ tháng 4/2020 đến tháng 12/2022) = 141.200.235đ. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ lãi là 105.560.000đ theo đơn khởi kiện ban đầu. Xét mức lãi suất theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật tố tụng dân sự và việc yêu cầu trả lãi suất với mức thấp hơn là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên cần ghi nhận.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu trả nợ gốc và yêu cầu trả lãi của nguyên đơn.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp toàn bộ án phí tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp.

[4] Về biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tại Quyết định số 02/2024/QĐ-BPKCTT ngày 15/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” đối với bà Võ Thị C để đảm bảo việc giải quyết vụ án và thi hành án. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm chưa có căn cứ để hủy bỏ biện pháp này nên cần tiếp tục duy trì để đảm bảo thi hành án.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 91, 92, 144, 147 và điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 280; khoản 2 Điều 357; các Điều 434, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ nghị quyết số: 02/2020/NQ-HĐTP ngày ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

  1. Buộc bị bà Võ Thị C có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH V số tiền 676.066.000đ (sáu trăm bảy mươi sáu triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) trong đó nợ gốc là: 570.506.000đ, nợ lãi là 105.560.000đ.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả chongười được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Về Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Võ Thị C phải chịu 31.042.640đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH V số tiền tạm ứng án phí 15.521.000đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009218 ngày 27/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đơn Dương.
  3. Tiếp tục duy biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” đối với ông bà Võ Thị C tại Quyết định số 02/2024/QĐ-BPKCTT ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng để đảm bảo thi hành án.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thị hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Đơn Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Đơn Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Võ Thành Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 10/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Cty TNHH VLXD B và bà Nguyễn Thị C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger