Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/DS-PT

Ngày: 11/12/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2024/TLPT - DS, ngày 30/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Thân Đức T, sinh năm 1993; Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang ( có mặt).
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  • Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Lê Văn L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Thân Đức T trình bày: Giữa ông L và anh Q có mối quan hệ quen biết, do anh Q có nhu cầu vay tiền của ông L để đáo hạn Ngân hàng nên ông L đồng ý cho anh Q vay số tiền là 600.000.000 đồng, thể hiện tại giấy vay tiền ngày 02/10/2015, lãi suất 2%/tháng, giấy vay tiền không thể hiện thời hạn trả nợ, khi nào ông L cần thì ông L đòi tiền anh Q. Do có mẫu soạn sẵn giấy vay tiền, khi hai bên thống nhất các nội dung chỉ cần điền thông tin người vay, thời gian vay, chữ viết điền vào nội dung tại “Giấy vay tiền” là ông L viết, phần vay tiền anh Q ký tên và viết cam kết, anh Q cam kết trả đúng hẹn, khi cần ông L thông báo cho anh Q trước một thời gian. Do điều kiện khó khăn anh Q không trả được nợ, khất nợ, ông L đồng ý gia hạn nợ (hai bên chỉ nói miệng với nhau). Từ tháng 4 năm 2023 đến nay, ông L đòi tiền nhưng anh Q không trả tiền vì vậy ông L khởi kiện Tòa án buộc anh Q phải thanh toán cho ông L số tiền gốc là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi là 480.000.000 đồng, tổng cả gốc và lãi là 1.080.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông L yêu cầu anh Q phải trả ông L số tiền gốc 600.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày vay 02/10/2015 đến ngày khởi kiện 24/6/2024 với mức lãi suất 9%/năm tương đương số tiền lãi 471.300.000 đồng.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn Q trình bày: Anh biết ông L qua anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố Đ, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Năm 2015 anh S có nói miệng nhờ anh Q cắm xe mô tô BKS: 99E1 -21228, đăng ký xe mang tên anh Nguyễn Văn Q cho ông L để anh S vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi thỏa thuận 2000đ/1.000.000đ/1 ngày, tiền lãi do anh S trả cho ông L. Chiếc xe này đến nay anh Q đang quản lý và sử dụng. Giữa anh Q và ông L thỏa thuận miệng là cầm cố xe nhưng lại ghi là giấy bán xe. Giấy tờ bán xe này hiện nay ông L đang giữ, nội dung là anh Quảng bán xe cho ông L với số tiền 30.000.000 đồng nhưng thực tế anh Q chỉ nhận 20.000.000 đồng, anh Q đưa số tiền 20.000.000 đồng cho anh S sử dụng. Từ năm 2015 đến nay ông L có thỉnh thoảng gọi điện thoại đòi anh Quảng T1 về việc mua bán xe nhưng anh trả lời là anh S vay thì anh S có trách nhiệm trả. Thực chất số tiền 20.000.000 đồng này anh vẫn chưa trả được cho ông L.

Nay ông L khởi kiện yêu cầu anh Q phải trả lại số tiền nợ gốc 600.000.000 đồng và tiền lãi anh không đồng ý vì anh không vay số tiền này. Anh Q chỉ ký vào giấy A4 trắng, không có nội dung vay 600.000.000 đồng. Anh Q chỉ ký, viết vào giấy bán xe cho ông L chứ không ký và không biết nội dung giấy vay tiền ngày 02/10/2015. Chữ ký và chữ viết trên Giấy vay tiền ngày 02/10/2015 nội dung “Tôi đã đọc kỹ và hiểu rõ những nội dung đã viết ở trên” và ký tên “Quảng; Nguyễn Văn Q” đúng là chữ ký và chữ viết của anh Q và anh Q không đề nghị giám định chữ ký và chữ viết này.

Ngoài giấy mua bán xe anh Q khẳng định giữa anh và ông L không có bất cứ khoản vay nào khác.

Người làm chứng anh Nguyễn Văn S trình bày:

Anh và anh Nguyễn Văn Q có quan hệ hàng xóm gần nhà nhau và là anh em họ với nhau. Còn anh và ông Lê Văn L có quan hệ xã hội.

Khoảng năm 2015 anh là người chứng kiến việc anh Nguyễn Văn Q viết giấy mua, bán xe với ông Lê Văn L đối với chiếc xe máy AIR BLADE, BKS anh không nhớ rõ, được số tiền 20.000.000 đồng, anh Q sử dụng số tiền này. Khi viết giấy mua bán, ông L bảo chỉ cần đưa cho ông L giấy tờ xe còn chiếc xe ông L cho anh Q đi về, anh Q đang quản lý và sử dụng xe mô tô này. Trên thực tế là cầm cố xe nhưng khi viết giấy tờ thì ghi là giấy mua bán xe, người nhận tiền, sử dụng tiền là anh Q. Anh S không biết về khoản vay 600.000.000 đồng giữa anh Q và ông L, anh S không có liên quan và anh không có ý kiến gì.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 235, 239, 227, 228, 254, 262, 264, 273, 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 471, 473, 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ khoản 2 Điều 469 Bộ luật dân sự 2015;Căn cứ nghị quyết 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L buộc anh Nguyễn Văn Q phải trả 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), tiền lãi là 471.300.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng), tổng cả gốc và lãi là 1.071.300.000 đồng (Một tỷ không trăm bảy mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị đơn là anh Nguyễn Văn Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giửi quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, phía bị đơn cho rằng nguyên đơn có sự gian dối không phải giấy vay tiền mà bị đơn ký đó là giấy mua bán xe nhưng bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh đề nghị hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn căn cứ vào giấy vay tiền đề nghị phía bị đơn trả tiền và đề nghị hội đồng giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử. bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Giữa ông Lê Văn L và anh Nguyễn Văn Q có mối quan hệ quen biết. Ngày 02/10/2015 hai bên có lập giấy vay tiền với nội dung anh Q vay của ông L số tiền là 600.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, giấy vay tiền không thể hiện thời gian trả nợ mà khi nào ông L cần thì sẽ đòi tiền anh Q. Hai bên đều ký xác nhận vào mục “người vay” và “người cho vay”. Tuy nhiên từ tháng 4 năm 2023 đến nay ông L đã nhiều lần đòi tiền nhưng anh Q không trả tiền cho ông L nên ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Q phải trả số tiền gốc là 600.000.000 đồng và tiền lãi là 471.300.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, bị đơn anh Nguyễn Văn Q kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của anh Q, Hội đồng xét xử thấy:

Hợp đồng vay tiền ngày 02/10/2015 là hợp đồng vay không có kỳ hạn, có lãi. Nội dung của hợp đồng không vi phạm quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Khi ký hợp đồng vay tiền, ông L và anh Q đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ về việc làm của mình. Việc ký kết giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, có đầy đủ chữ ký của bên vay và bên cho vay. Như vậy Hợp đồng vay tiền này đã tuân thủ các quy định của pháp luật về cả nội dung và hình thức và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng. Hợp đồng vay tiền có hiệu lực từ ngày 02/10/2015 tuy nhiên đến tháng 4/2023 ông L có nhiều lần đòi tiền anh Q nhưng anh Q không trả tiền cho ông L, như vậy là anh Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Tại lời trình bày của anh Q cho rằng anh không vay cũng như không ký vào Hợp đồng vay tiền trên mà chỉ ký vào giấy A4 trắng, giữa anh và ông L không có quan hệ vay nợ mà chỉ có quan hệ mua bán xe mô tô. Tuy nhiên đó chỉ là lời trình bày của anh Q, anh Q không cung cấp tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của mình. Ngoài ra anh Q cũng xác nhận chữ ký và chữ việt “Tôi đã đọc kĩ và hiểu rõ những nội dung đã viết ở trên” tại Hợp đồng vay tiền ngày 02/10/2015 là của anh Q.

Từ những phân tích trên có thể thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc anh Q phải trả cho ông L 600.000.000 đồng tiền gốc và 471.300.000 đồng tiền lãi tính từ ngày vay 02/10/2015 đến ngày khởi kiện 24/6/2024 là đúng quy định của pháp luật, anh Q là người kháng cáo những không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ do đó cần bác toàn bộ kháng cáo của anh Q.

Tuy nhiên phần tuyên lãi suất phát sinh do chậm trả tiền trong phần quyết định của bản án sơ thẩm không đúng với hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP ngày 05/6/2019 của Hội đồng thẩm phán nhân dân tối cao về việc đính chính Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, do đó cần sửa bản án sơ thẩm xử về phần tuyên lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[3].Về án phí: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên anh Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí dân phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Văn Q, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ về cách tuyên phần lãi suất chậm trả.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại anh Q 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại biên lai số 0000650 ngày 09/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Sơn Đỗ Thế Bình

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 10/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyên đơn: Ông Lê Văn Lục; Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Quảng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger