|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/DS-PT
Ngày: 04-01-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Mai Trần Cảnh
Các Thẩm phán:Ông Hoàng Bích Sơn;
Ông Lại Huỳnh Tú.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số : 457/2023/TLPT-DS ngày 10/10/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 5403/2023/QĐPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16392/2023/QĐPT-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thùy L, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số B đường B, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ: Số B đường N, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hồ Thanh D, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số D đường P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền lập ngày 30/8/2022) - Vắng mặt;
Bị đơn: Bà Phạm Kim H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số N Cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thùy L có ông Hồ Thanh D là đại diện ủy quyền trình bày:
Vào ngày 15/10/2020, bà Phạm Thị Thùy L và bà Phạm Kim H có ký hợp đồng vay tiền số công chứng là 00010711 tại Văn phòng C với nội dung:
- Bà Phạm Thị Thùy L cho bà Phạm Kim H vay số tiền là 1.500.000.000đồng, với lãi suất là 1,5%/tháng và thời hạn vay là 06 tháng. Đồng thời, hai bên đã thực hiện việc giao nhận số tiền vay và bà Phạm Kim H đã ký xác nhận là nhận đủ số tiền vay của bà Phạm Thị Thùy L.
- Bà H thế chấp tài sản là toàn bộ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 85, tọa lạc tại địa chỉ số H đường L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 803409, số vào sổ cấp GCN CS05962 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 01/3/2018 cho bà Phạm Kim H (hiện nay bà Phạm Thị Thùy L đang giữa Giấy chứng nhận nêu trên).
Ngoài ra, thời điểm vay tiền của bà Phạm Thị Thùy L thì bà Phạm Kim H độc thân không có chồng; còn chồng của bà Phạm Thị Thùy L là ông Lâm Đức T cũng xác nhận số tiền mà bà L cho bà Phạm Kim H là tài sản riêng của bà L nên ông không liên quan.
Khi hết thời hạn vay tiền, do bà Phạm Kim H không trả vốn và lãi mặc dù bà Phạm Thị Thùy L đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu trả nợ nhưng bà Phạm Kim H cũng không thanh toán nợ.
Nay bà Phạm Thị Thùy L yêu cầu bà Phạm Kim H phải trả toàn bộ số tiền còn nợ là 1.927.500.000đồng, bao gồm: số tiền vay là 1.500.000.000đồng và lãi là 427.500.000đồng (với lãi suất thỏa thuận là 1,5%/tháng và thời hạn tính lãi là 19 tháng từ ngày 15/5/2021 đến ngày 15/11/2022); yêu cầu trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Phạm Kim H vắng mặt, mặc dù tòa án đã triệu tập hợp lệ, do đó tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DS-ST ngày 27/7/2023, của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 228; Khoản 4 Điều 264 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 357; Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc bà Phạm Kim H phải có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị Thùy L số tiền còn thiếu theo hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm (thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở) ngày 15/10/2020 (tại Văn phòng C, số công chứng là 00010711), với tổng số tiền là 1.927.500.000đồng (Một tỷ chín trăm hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng); bao gồm: số tiền vay là 1.500.000.000đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng) và số tiền lãi là 427.500.000đồng (Bốn trăm hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng), bằng cách trả làm một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về trách nhiệm thi hành án: Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
Ngày 25/8/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án theo hướng sửa án sơ thẩm, tuyên nguyên đơn phải hoàn trả giấy tờ nhà đất cho bị đơn sau khi bị đơn hoàn tất nghĩa vụ thanh toán.
Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; phía bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện đúng về thời hạn chuẩn bị xét xử. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- + Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án:
- + Hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm (thế chấp quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở) số công chứng là 00010711 ngày 15/10/2020 tại Văn phòng C với nội dung: Bà Phạm Kim H vay của bà Phạm Thị Thùy L số tiền là 1.500.000.000 đồng, thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay là toàn bộ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 85, tọa lạc tại địa chỉ số H đường L, Phường A, Quận H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 803409, số vào sổ cấp GCN CS05962 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 01/3/2018 cho bà Phạm Kim H. Như vậy, đây là hợp đồng vay tài sản có biện pháp bảo đảm là thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, là loại hợp đồng song vụ. Bản án sơ thẩm giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền mà không giải quyết tài sản bảo đảm, buộc bị đơn thanh toán tiền vay và lãi cho nguyên đơn nhưng không tuyên nguyên đơn phải hoàn trả cho bị đơn giấy tờ nhà đất sau khi thanh toán là không giải quyết triệt để vụ án, ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của đương sự. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm, tuyên nguyên đơn phải hoàn trả giấy tờ nhà đất cho bị đơn sau khi bị đơn hoàn tất nghĩa vụ thanh toán.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định
- Về thủ tục:
[1] Quyết định kháng nghị số 6511/QĐKNPT-VKS-DS ngày 25/8/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.
[2] Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xác định đúng quan hệ tranh chấp, xét xử đúng thẩm quyền, triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng.
[3] Bị đơn bà Phạm Kim H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, người đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Thùy L là ông Hồ Thanh D có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án, xem xét nội dung kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[1] Ngày 15/10/2020, tại Văn phòng C, bà Phạm Thị Thùy L và bà Phạm Kim H ký hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm (thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở) số công chứng là 00010711 với nội dung: Bà Phạm Kim H vay của bà Phạm Thị Thùy L số tiền 1.500.000.000 đồng với thời hạn 06 tháng
kể từ ngày ký hợp đồng, lãi suất do các bên tự thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm. Bà Phạm Kim H thế chấp tài sản là toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 85, địa chỉ số H đường L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bà H giao cho bà L giữ toàn bộ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 803409, số vào sổ cấp GCN CS05962 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 01/3/2018. Bà Phạm Kim H hiện giữ toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở. Như vậy, giữa bà Phạm Thị Thùy L và bà Phạm Kim H tồn tại hợp đồng vay tài sản có biện pháp bảo đảm là thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở.
Bà H đã nhận đủ tiền vay và bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 803409, số vào sổ cấp GCN CS05962 theo Hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm (thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở) số công chứng là 00010711 ngày 15/10/2020.
[2] Đối với khoản tiền gốc vay 1.500.000.000 đồng ngày 15/10/2020 và tiền lãi là 427.500.000 đồng thì các bên đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị nên quyết định của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
[3] Đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là thế chấp theo hợp đồng ngày 15/10/2020
Theo nội dung thỏa thuận tại hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm (thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở) ngày 15/10/2020 giữa bà Phạm Thị Thùy L và bà Phạm Kim H thì đây là hợp đồng song vụ và có hiệu lực giữa các bên vào thời điểm giao kết hợp đồng quy định tại Điều 317, 319, 410 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà L và bà H có thỏa thuận về thế chấp tài sản và có giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 803409, số vào sổ cấp GCN CS05962 nhưng các bên chưa tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 nên chưa phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba.
Cấp sơ thẩm căn cứ vào phạm vi xét xử theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để giải quyết là phù hợp theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, việc tuyên buộc bà Phạm Kim H có nghĩa vụ trả số tiền còn thiếu theo hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm (thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở) ngày 15/10/2020 cho bà Phạm Thị Thùy L mà không buộc bà Phạm Thị Thùy L trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 803409, số vào sổ cấp
GCN CS05962 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 01/3/2018 cho bà Phạm Kim H khi bà H trả đủ số tiền theo bản án là chưa đảm bảo phù hợp quy định của pháp luật về thực hiện hợp đồng song vụ, chưa đảm bảo công bằng cho các bên đương sự.
Từ những lý lẽ đã viện dẫn, có cơ sở để chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 317, 319, 410 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 6511/QĐKNPT-VKS-DS ngày 25/8/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Buộc bà Phạm Thị Thùy L có nghĩa vụ trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 803409, số vào sổ cấp GCN CS05962 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 01/3/2018 cho bà Phạm Kim H khi bà Phạm Kim H hoàn tất nghĩa vụ thanh toán.
2. Giữ nguyên các phần còn lại của Bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể như sau:
2.1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Buộc bà Phạm Kim H phải có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị Thùy L số tiền còn thiếu theo hợp đồng vay tiền có biện pháp bảo đảm (thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở) ngày 15/10/2020 (tại Văn phòng C, số công chứng là 00010711), với tổng số tiền là 1.927.500.000đồng (Một tỷ chín trăm hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng); bao gồm: số tiền vay là 1.500.000.000đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng) và số tiền lãi là 427.500.000đồng (Bốn trăm hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng), bằng cách trả làm một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.2. Về trách nhiệm thi hành án: Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi
thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm: 69.825.000đồng (Sáu mươi chín triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Bà Phạm Kim H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 69.825.000đồng (Sáu mươi chín triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Bà Phạm Thị Thùy L không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà Phạm Thị Thùy L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 34.912.500đồng (Ba mươi bốn triệu chín trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) theo biên lai số AA/2021/0012772 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Mai Trần Cảnh |
Bản án số 10/2024/DS-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 10/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
