|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày: 25/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Lương Văn Sinh.
- Ông Chu Vinh Quang.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Dương Tiến Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/HSST ngày 28/7/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/HSST-QĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T; tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/10/1987, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: khu Y, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe;
Con ông: Bùi Văn C (đã chết); Con bà: Vũ Thị L, sinh năm 1959; Vợ là: Đỗ Thị Thúy H, sinh năm 1990; Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 05/6/2023 đến ngày 03/9/2023.
Bị hại: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1937; nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Lê Văn Q: Anh Lê Văn V, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1988; nơi cư trú: khu Y, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
Người làm chứng:
Đặng Bá C1, sinh năm 1959; nơi cư trú: phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn T (có giấy phép lái xe hạng E) hợp đồng lái xe ô tô chở khách tuyến M đi Hà Nội với anh Nguyễn Trung K (sinh năm 1988, trú tại phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh). Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/02/2023, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 14F -007.30 chạy hướng huyện Tiên Y đi huyện H để đón khách, khi đi đến đoạn Km 227+200 Quốc lộ A, thuộc phố T, thị trấn Đ, huyện Đ (thuộc khu vực đông dân cư, có ngã ba giao nhau với phố L, thị trấn Đ) do chạy với tốc độ khoảng từ 63 đến 67km/h, lấn sang phần đường ngược chiều nên đã đâm vào xe đạp điện do ông Lê Văn Q, sinh năm 1937, trú tại thôn H, xã Đ, huyện T điều khiển từ đường P, thị trấn Đ chuyển hướng sang đường. Hậu quả: ông Q bị tử vong, 02 xe phương tiện bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ lập hồi 07 giờ 45 phút ngày 15/02/2023 kèm theo sơ đồ hiện trường thể hiện: hiện trường không còn nguyên vẹn do đã đưa nạn nhân đi cấp cứu; khám nghiệm trong điều kiện trời sáng, thời tiết khô ráo. Nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều trải nhựa phẳng, mặt đường rộng 11,7m, giữa đường có kẻ vạch sơn màu vàng dạng nét đứt chia hai phần đường, phần đường bên phải hướng T đi H rộng 5,85m; tại khu vực ngã ba đường giao nhau giữa Quốc lộ A với đường P, thị trấn Đ có hai đảo giao thông (được miêu tả theo chiều đường T đi H), đảo giao thông thứ nhất rộng 7,3m, đảo giao thông thứ hai rộng 9,1m và chia đường phố Lê Lương thành 03 phần đường rộng lần lượt là 43,3m; 29,2m và 18,3m; tại đảo giao thông thứ hai có cột mốc H2/227; trên đường P, thị trấn Đ tại mép đường bên phải hướng phố L quốc lộ A có các biển báo lần lượt là P.127 (biển báo tốc độ tối đa 50km/h); W.224 (biển báo đường người đi bộ cắt ngang); W.208 (biển báo giao nhau với đường ưu tiên); R.134 (hết hạn chế tốc độ tối đa). Biển báo R.134 và R.208 cách cột mốc H2/227 lần lượt là 26m và 40m. Các dấu vết, phương tiện được đo, vẽ về mép đường bên phải theo hướng T đi H làm chuẩn, lấy cột mốc H2/227 làm điểm mốc (điểm mốc cách mép đường chuẩn là 0,8m) thể hiện:
Vùng mảnh vỡ nhựa trên mặt đường quốc lộ 18A có kích thước (20 x 6,2)m; đầu vết cách mép đường 6,8m; cuối vết cách mép đường 4,7m (ký hiệu số 01).
Vết cày xước trên mặt đường nhựa kích thước (14,1 x 0,88)m từ tâm đường ra mép đường chuẩn có hướng T đi H; đầu vết cách mép đường chuẩn 7,1m và cách đầu vết 01 là 2,6m; cuối vết cách mép đường 1,9m và trùng với tay phanh bên trái của xe đạp điện (ký hiệu số 02).
Xe đạp điện nằm đổ nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng đi T, đuôi xe quay hướng đi H; trục bánh trước cách mép đường 2,6m; trục bánh sau cách mép đường 2,63m và cách đầu vết số 02 là 14,45m (ký hiệu số 03).
Vùng vết nâu đỏ nghi máu trên mặt đường kích thước (1,4 x 0,8)m, tâm vùng vết cách mép đường 6,5m và cách trục bánh sau của xe đạp điện là 8,9m (ký hiệu số 04).
Xe ô tô BKS 14F-007.30 đầu xe quay hướng H, đuôi xe quay hướng T; má ngoài lốp bánh sau bên phải cách mép đường 2,25m và cách tâm vết số 04 là 25,6m, cách cột mốc H2/227 là 8,1m; má ngoài lốp bánh trước bên phải cách mép đường 1,7m (ký hiệu số 05).
Mở rộng hiện trường ghi nhận: trên đường quốc lộ 18A tại mép đường bên phải hướng Tiên Y đi H cách cột mốc H2/227, 990m về hướng T có biển báo R.420 (biển báo bắt đầu khu đông dân cư).
Cơ quan điều tra đã tạm giữ: xe ô tô BKS 14F-007.30, xe đạp điện và giấy tờ kèm theo; 01 thiết bị giám sát hành trình tích hợp đầu video số CM3:1AS05C064N2 được lắp đặt trên xe ô tô 14F-007.30; 01 đĩa CD có dữ liệu hình ảnh Camera giám sát được lắp đặt tại đoạn đường P, thị trấn Đ, huyện Đ ghi lại hình ảnh xảy ra vụ tai nạn giao thông.
Kết quả khám nghiệm các phương tiện thể hiện:
Xe đạp điện (không có BKS): hệ thống đèn pha bị vỡ, bung bật rời khỏi xe; tay phanh trái bị gãy rời khỏi xe, xe không gương chiếu hậu; cao su tay lái bên trái bị mài xước cao su kích thước (02 x 0,8)cm, hướng từ sau về trước; càng trước bên trái bị lõm móp kích thước (03 x 02)cm, bị đẩy dồn từ trước về sau, từ trái sang phải, bị mài xước kim loại kích thước (20 x 03)cm, hướng từ trên xuống dưới; càng bên phải bị mài xước kim loại kích thước (20 x 03)cm; đầu chắn bùn trước bị gãy, đẩy dồn từ trước về sau; vành bánh trước bị gãy, rời khỏi vị trí ban đầu; đế chân trước bên phải bị cong vênh đẩy dồn từ dưới lên trên KT (12 x 03)cm; khung thân xe bị cong vênh, đẩy dồn từ trái sang phải; bàn đạp bên trái bị cong vênh, mài xước kim loại kích thước (07 x 03)cm, hướng từ dưới lên trên; đèn hậu bị vỡ rời khỏi xe.
Xe ô tô BKS 14F - 007.30: kính chắn gió trước bị vỡ kích thước (82 x 70)cm, điểm lõm sâu nhất là 2,5cm và cách mặt đất 1,5m; nắp ca bô bên phải bị lõm móp kích thước (50 x 55)cm, bị đẩy dồn từ trước về sau; Cụm đèn pha trước bên phải bị vỡ, đẩy dồn từ trước về sau, lõm sâu 04cm; ốp tai xe bên phải bị lõm móp đẩy dồn từ trước về sau, ép sát vào cánh cửa lên xuống xe, để lại vết mài xước màu đen kích thước (20 x 08)cm hướng từ trước về sau; ba đờ sốc trước bên phải bị vỡ, bung bật kích thước (97 x 50)cm còn bám dính chất màu nâu đỏ kích thước (30 x 15)cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 41/23/TT ngày 17/02/2023 của Trung tâm P, kết luận: ông Lê Văn Q bị gãy kín 1/3 trên 02 xương cẳng chân phải; vết thương lóc da khoeo chân trái và vết thương nhiều nơi; gãy thân xương ức và 16 xương sườn hai bên, khoang ngực mỗi bên có khoảng 1000ml máu. Đụng đập nhu mô phổi hai bên, rách bao tim. Vỡ tiểu nhĩ phải, vỡ quai động mạch chủ lên. Nguyên nhân chết là do sốc mất máu tối cấp do chấn thương ngực kín, vỡ tiểu nhĩ phải và quai động mạch chủ.
Tại Bản kết luận giám định số 1398/KL-KTHS ngày 30/5/2023 của V1 kết luận: không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp
video gửi giám định. Tốc độ của xe ô tô mang BKS 14F-007.30 trong khoảng từ 63 (km/h) đến 67 (km/h). Không xác định được tốc độ của xe đạp điện trong vụ tai nạn giao thông.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: tổng giá trị tài sản bị thiệt hại do vụ tai nạn giao thông gây ra đối với xe ô tô BKS 14F- 007.30 là 7.765.100 đồng; xe đạp điện là 655.000 đồng.
Ngoài ra T còn khai: khi phát hiện xe ông Q khoảng 60m, nghĩ ông Q sẽ dừng xe lại nhường đường cho mình nên T không giảm tốc độ mà vẫn đi thẳng, khi còn cách xe ông Q khoảng 30m, thấy ông Q vẫn tiếp tục điều khiển xe sang đường, T đánh lái sang trái đường để tránh nhưng không kịp.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn Q: Anh Lê Văn V, có lời khai tại cơ quan điều tra với nội dung; gia đình đã được bị cáo bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nữa. Về phần hình phạt tù đề nghị, Hội đồng xét xử, xử bị cáo mức án thấp nhất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trung K có nội dung lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: sau khi được bị cáo T thông báo xảy ra tai nạn, tôi chủ xe ô tô BKS 14F-007.30 đã có mặt tại Công an huyện Đ để giải quyết việc liên quan đến chiếc xe của tôi. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ liên quan cho tôi và tôi không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại đối với xe của tôi.
Lời khai của người làm chứng Đặng Bá C1 tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hậu quả giống như lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-ĐH, ngày 28/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà truy tố Bùi Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Bùi Văn T; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình người bị kết án có trách nhiệm cùng chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Bùi Văn T đã bồi thường xong cho gia đình bị hại ông Q số tiền 180.000.000 đồng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trung K (chủ xe ô tô BKS 14F-007.30) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang số [...] cấp ngày 18/3/2021 mang tên Bùi Văn T.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và có lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường; phù hợp bản kết luận giám định pháp y về tử thi kết luận nguyên nhân chết của bị hại : ông Lê Văn Q bị gãy kín 1/3 trên 02 xương cẳng chân phải; vết thương lóc da khoeo chân trái và vết thương nhiều nơi; gãy thân xương ức và 16 xương sườn hai bên, khoang ngực mỗi bên có khoảng 1000ml máu. Đụng đập nhu mô phổi hai bên, rách bao tim. Vỡ tiểu nhĩ phải, vỡ quai động mạch chủ lên. Nguyên nhân chết là do sốc mất máu tối cấp do chấn thương ngực kín, vỡ tiểu nhĩ phải và quai động mạch chủ; phù hợp biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và người làm chứng, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường và toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/02/2023, tại khu vực đoạn thuộc Km 227+200 Quốc lộ A thuộc phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh (khu vực đông dân cư, có đường giao nhau với phố L); Bùi Văn T (có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển) điều khiển xe ôtô khách BKS 14F-007.30 chạy hướng huyện T đi huyện H, do chạy quá tốc
độ quy định (vượt tốc độ cho phép từ khoảng 13 đến 17 Km/h) và đi không đúng phần đường nên đã đâm vào xe đạp điện do ông Lê Văn Q điều khiển từ đường nội thị phố L, thị trấn Đ chuyển hướng sang đường. Hậu quả làm ông Q bị tử vong do đa chấn thương.
Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn T đã vi phạm khoản 11 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và khoản 5 Điều 5, Điều 6 Thông tư số31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:
“Các hành vi bị nghiêm cấm.
1.....
11. Điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định, ....”.
Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định:
“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định:
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường ...”.
Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định:
Các trường hợp phải giảm tốc độ: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1...
5. Qua khu vực đông dân cư, ...”.
Điều 6 thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định:
“Tốc độ tối đa đối với xe cơ giới trong khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc) khi lưu thông trên đường hai chiều, đường một chiều có một làn xe cơ giới là 50km/h".
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người”.
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn T đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng và tài sản của công dân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình
phạt bổ sung:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả của hành vi phạm tội và xét thấy cũng có một phần lỗi của bị hại, do đó Hội đồng xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình nơi bị cáo cư trú cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” của Công an huyện Đ đang áp dụng đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử nhận thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6] Về phần dân sự trong vụ án hình sự:
Bị cáo Bùi Văn T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại ông Q số tiền 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng) gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó phần dân sự đã được giải quyết xong.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trung K (chủ xe ô tô BKS 14F-007.30) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe thu giữ của bị cáo mang số [...] cấp ngày 18/3/2021, đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
[8] Đối với Nguyễn Trung K có hành vi giao xe cho bị cáo (có hợp đồng miệng), tuy nhiên bị cáo có đủ năng lực, hành vi dân sự để điều khiển xe theo quy định, việc bị cáo điều khiển xe gây tai nạn là lỗi của bị cáo nên không đề cập xử lý về hành vi giao xe của Nguyễn Trung K..
[9] Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đã được cơ quan Điều tra thu thập theo đúng thủ tục, trình tự mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát, nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, phần dân sự và xử lý vật chứng đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí
sơ thẩm. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bùi Văn T 12 ( Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình người bị kết án có trách nhiệm cùng chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự; Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “ Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 11 ngày 5/6/2023 của Công an huyện Đ đang áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 giấy phép lái xe mang số [...] cấp ngày 18/3/2021 mang tên Bùi Văn T. (giấy phép lái xe kèm theo hồ sơ vụ án) trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoản 1, 4 Điều 331 và khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời
hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Hằng |
Bản án số 10/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 10/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Thọ phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
