|
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 7 Bản án số: 10/2021/HS-ST Ngày 20-10-2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 7
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1// Trần Thanh Sơn.
Các Hội thẩm quân nhân:
- Nguyễn Xuân Hướng
- Nguyễn Kỳ Son
Thư ký phiên tòa: 3// CN Võ Thành Danh, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 7.
Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực 71 tham gia phiên tòa: 1// Nguyễn Hữu Chí - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 10 năm 2021, tại Phòng xử án Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 5 năm 1994, tại Nam Định; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lơ xe; trình độ văn hoá: 9/12; nơi cư trú: 231 đường số N, khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị Toà án nhân dân Thị xã D, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù (hình phạt tổng hợp) về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009, tại Bản án số 346/HSST ngày 30/11/2011 và Bản án số 70/HSST ngày 06/3/2013, đã chấp hành xong hình phạt tù theo Giấy chứng nhận số 380, ngày 14/4/2014 của Trại giam A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Phạm Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 25/4/2021 đến ngày 04/5/2021; tạm giam từ ngày 04/5/2021 đến nay, tại Trại tạm giam K-Quân khu V; có mặt.
2. Nguyễn Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 12 năm 1990, tại: Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 12/12; cấp bậc: 1/ CN; chức vụ: Lái xe; đơn vị: Phòng KT, C, Quân khu V; nơi cư trú: 892b Quốc lộ A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Con ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, không bị xử phạt hành chính và xử lý kỷ luật lần nào. Bị cáo Nguyễn Văn C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 03/5/2021 đến nay, tại Trại tạm giam K-Quân khu V; có mặt.
3. Nguyễn Thị N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 29 tháng 4 năm 1988, tại: Lâm Đồng; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 3/12; nghề nghiệp: Không; nơi cư trú: 27/5 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị B; có chồng là Nguyễn Bá N1 (đã li hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, không bị xử phạt hành chính và xử lý kỷ luật lần nào. Bị cáo Nguyễn Thị N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 25/4/2021 đến ngày 04/5/2021; tạm giam từ ngày 04/5/2021 đến nay, tại Trại tạm giam K-Quân khu V; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- 1. Đặng Nguyễn N2; sinh ngày 20 tháng 4 năm 1993 tại Bến Tre; nơi cư trú: Tổ H, ấp K, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- 2. Nguyễn T A; sinh ngày 20 tháng 10 năm 1992, tại Kiên Giang; nơi cư trú: Phố Kênh B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt.
Người làm chứng:
- 1. Nguyễn Văn T, vắng mặt.
- 2. Nguyễn Thành K, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 24/4/2021. Sau khi nhậu xong Phạm Văn T đề xuất với Nguyễn Văn C đi quán bar chơi tiếp, C đồng ý và đưa số điện thoại Nguyễn Thị N cho T gọi điện thoại rủ N cùng đi, khoảng 22 giờ 30 T gọi điện hỏi N có biết quán bar nào mở cửa và cho thiếu tiền bàn không, N nói để hỏi rồi báo lại sau. Đến 23 giờ 00 cùng ngày, sau khi T, N và C trao đổi qua lại bằng điện thoại, T, C nói với N chỉ còn đủ tiền mua “hàng” nên C kêu N cứ trả tiền bàn đi, C sẽ chuyển tiền trả lại cho N sau, N đồng ý. Sau đó, N gọi điện cho Nguyễn Thành K là Quản lý quán bar N62 (địa chỉ 6/2Đ đường N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh) để đặt bàn và gọi điện hẹn gặp T, C tại ngã tư chợ B. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 25/4/2021, C chở T đến ngã tư chợ B để gặp N; khi gặp nhau, T đưa cho N 2.000.000 đồng để mua ma tuý cho cả 03 (ba) cùng sử dụng (T và C mỗi người hùn 1.000.000 đồng, T ứng trước, C sẽ trả lại cho T sau). Khi đến quán bar N62, T, C và N được nhân viên của quán đưa vào ngồi tại bàn Vip 15, N mua 03 (ba) “viên kẹo” và 01 (một) “chấm khay” từ một nhân viên của quán bar. Sau đó, N và C đi vệ sinh, T ngồi tại bàn, khi N và Công quay lại bàn ngồi, N thấy trên bàn có 01 ly thuỷ tinh, bên trong có khăn giấy. N cầm ly thuỷ tinh lên, lấy khăn giấy ra thì thấy bên trong khăn giấy có 03 (ba) viên nén màu xanh và 01 (một) túi nilon chứa tinh thể màu trắng. N lấy ra, đưa cho C và T mỗi người 01 (một) viên nén màu xanh và bỏ viên còn lại vào túi quần bên trái. Cầm viên nén N đưa, C uống ½ (nửa) viên, ½ (nửa) viên còn lại C bỏ vào ly thuỷ tinh để trên bàn. T cũng uống ½ (nửa) viên, ½ (nửa) viên còn lại T nhét phía sau ghế đang ngồi và đưa cho N 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 (năm ngàn) đồng. N lấy tinh thể màu trắng trong túi nilon cho vào tờ tiền T đưa, tiến hành cà nhuyễn, sau đó đưa cho C và T sử dụng; sau khi C và T mỗi người hít khoảng 02 (hai) hơi, N gói tờ tiền chứa số tinh thể mà C và T chưa sử dụng hết và đặt trên bàn.
Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác thuộc Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Công an xã B và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện H kiểm tra hành chính tại quán N62. Quá trình kiểm tra tại bàn Vip 15 của T, C và N đang ngồi phát hiện và thu giữ: tinh thể màu trắng, có khối lượng 0,3293g, được gói bên trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; ½ (nửa) viên nén màu xanh, có khối lượng 0,2039g, trong ly thuỷ tinh trên bàn; 01 (viên) nén màu xanh, có khối lượng 0,4613g, cất giấu trên người N (lực lượng Công an không tìm thấy ½ (nửa) viên ma tuý T nhét phía sau ghế). Sau khi test nhanh, xác định các chất thu giữ là ma tuý, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ. Sau đó, đưa các bị can cùng tang vật về trụ sở làm việc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, như: Biên bản kiểm tra hành chính, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ khác.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 25/4/2021.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 03/5/2021.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 25/4/2021.
|
Nơi nhận: - TAQSTW; - VKSQSQK7; - Viện kiểm Sát QSKV 71; - Cơ quan ĐTHSKV1; - Cơ quan THAHSQK7; - Cơ quan THADSQK7; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiếu tá Trần Thanh Sơn |
Bản án số 10/2021/HS-ST ngày 20/10/2021 của Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 7 về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/10/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 7
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Tuấn và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
